User Tools

Site Tools


books:24books:a_treatise_on_cosmic_fire:tcf_0


LỜI GIỚI THIỆU

INTRODUCTION

“To the God Who is in the FIRE and Who is in the waters;

“To the God Who is in the FIRE and Who is in the waters;

To the God Who has suffused Himself through all the world;

To the God Who has suffused Himself through all the world;

To the God Who is in summer plants and in the lords of the forest;

To the God Who is in summer plants and in the lords of the forest;

To that God be adoration, adoration.”

To that God be adoration, adoration.”

—Sh’vet Upanishad, II.17.

—Sh’vet Upanishad, II.17.

[vi]

[vi]

LỜI GIỚI THIỆU

INTRODUCTION

Câu chuyện trong nhiều năm về công tác viễn cảm của Chân Sư Tây Tạng với bà Alice A.Bailey được tiết lộ trong tập sách Tự Truyện Chưa Hoàn Tất của bà được xuất bản năm 1951. Sách này nêu ra các trường hợp về lần tiếp xúc đầu tiên của bà với Chân Sư trên cõi trần, xảy ra ở California vào tháng 11 năm 1919. Công việc của ba mươi năm đã được hoạch định. Khi công việc này đã được hoàn tất, trong vòng ba mươi ngày sau giai đoạn đó, bà Bailey được giải thoát khỏi các hạn chế của thể xác.

The story of the many years of telepathic work by the Tibetan with Alice A. Bailey is revealed in her Unfinished Autobiography, published in 1951. This includes the circumstances of her first contact with him, on the physical plane, which took place in California in November 1919. Thirty years' work was planned. When this had been accomplished, and within thirty days after that period, Mrs. Bailey gained her release from the limitations of the physical vehicle.

Quyển Tự Truyện cũng chứa đựng một số phát biểu của Chân Sư Tây Tạng về công việc của Ngài, và một số thông tin về các lý do tại sao công việc đó được tiến hành. Vào các giai đoạn ban đầu, công việc bao hàm sự quan tâm cẩn thận vào các điều kiện của cõi trần vốn có thể trợ giúp tốt nhất cho tiến trình viễn cảm (thần giao cách cảm) thành công hơn. Nhưng trong các năm sau, kỹ thuật được hoàn thiện và cơ cấu dĩ thái của bà A. A. B. được điều hợp và hiệu chỉnh một cách khéo léo đến nỗi toàn bộ tiến trình thực tế không cần một chút nỗ lực nào, còn thực tại và sự hữu ích thực tiễn của sự tương tác viễn cảm đã được chứng tỏ là đạt đến một trình độ độc nhất vô nhị.

The Autobiography also contains certain statements by the Tibetan in regard to his work and some information as to the reasons why it was undertaken. In the early stages the work involved careful attention to the physical plane conditions which might best help to make the telepathic process more successful. But during the latter years the technique was so perfected and the etheric mechanism of A.A.B. so skilfully attuned and adjusted that the whole process was practically effortless, and the reality and practical usefulness of telepathic interplay was demonstrated to an unique degree.

Các chân lý thiêng liêng được bàn đến bao hàm nhiều trường hợp mà cách diễn tả bằng hạ trí cụ thể (thường là với các hạn chế không thể vượt qua của Anh ngữ) đối với các ý tưởng trừu tượng và cho đến bây giờ là các khái niệm hoàn toàn không được biết về các thực tại thiêng liêng. Giới hạn không thể vượt qua này của chân lý đã thường được kêu gọi sự chú ý của các độc giả của các quyển sách được tạo ra như thế, nhưng tất cả rất thường bị quên đi. Việc luôn luôn nhớ lại điều đó sẽ tạo ra trong các năm sắp đến một trong các yếu tố chính trong việc ngăn chận sự kết tinh của giáo lý khỏi việc tạo ra một sự sùng bái có tính giáo điều và bè phái hơn.

The spiritual truths dealt with involved in many cases the expression by the lower concrete mind (often with the insuperable restrictions of the English language) of abstract ideas and hitherto quite unknown concepts of spiritual realities. This unescapable limitation of truth has been frequently called to the attention of the readers of the books so produced but is all too often forgotten. Its constant remembrance will constitute in the years to come one of the chief factors in preventing the crystallisation of the teaching from producing yet one more dogmatic sectarian cult.

Quyển sách này, bộ Luận Về Lửa Càn Khôn, được xuất bản lần đầu năm 1925, là quyển thứ ba được ra đời bằng cách kết hợp, và đưa ra bằng chứng cố hữu rằng nó sẽ đóng vai trò là phần chủ yếu, và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của các giáo lý trong ba mươi năm qua, bất kể sự sâu sắc và sự hữu ích của các quyển sách được xuất bản trong loạt sách [vii] có tựa đề Luận về Bảy Cung hay của bất cứ sách nào khác.

The present volume, A Treatise on Cosmic Fire, first published in 1925, was the third book jointly produced and carries inherent evidence that it will stand as the major and most far-reaching portion of the thirty-year teachings, notwithstanding the profundity and usefulness of the volumes published in the series [vii] entitled A Treatise on the Seven Rays or of any other of the books.

Trong quá trình lâu dài của công tác, thể trí của Chân Sư Tây Tạng và A.A.B. đã trở nên được điều hợp rất mật thiết đến nỗi chúng đã là − trong phạm vi liên quan đến việc sản xuất giáo lý − một cơ cấu hợp tác đơn thuần được dự trù có hiệu quả. Ngay cả đến lúc cuối, A.A.B. thường nói đến sự ngạc nhiên của bà ở những cái nhìn thoáng qua mà bà đã có qua sự tiếp xúc với thể trí của Chân Sư Tây Tạng, về các viễn cảnh vô giới hạn của các chân lý thiêng liêng mà bà không thể tiếp xúc cách nào khác, và thường có một tính chất mà bà không thể diễn đạt. Kinh nghiệm này đã là căn bản của sự xác quyết thường được bà công bố nhưng thường thường ít được hiểu biết, rằng mọi giáo lý mà bà đang giúp để tạo ra, thực ra chỉ là A B C của kiến thức huyền bí, và rằng trong tương lai, bà rất sẵn lòng từ bỏ bất luận tuyên bố nào trong giáo lý hiện hữu, khi bà tìm thấy có giáo lý huyền bí nào tốt đẹp hơn và thâm sâu hơn. Dù trong sáng và sâu sắc như là giáo huấn hiện tại trong các sách được xuất bản dưới tên của bà, các chân lý được truyền đạt chỉ là một phần và phụ thuộc vào sự mặc khải và mở rộng sau này, đến nỗi, nếu được ghi nhớ thường xuyên, sẽ cho chúng ta một sự bảo vệ thứ hai rất cần thiết để chống lại tính chất của thể trí cụ thể vốn thường có khuynh hướng tạo ra tinh thần bè phái.

During the long course of the work the minds of the Tibetan and A.A.B.became so closely attuned that they were in effect—so far as much of the production of the teaching was concerned—a single joint projecting mechanism. Even to the end A.A.B. often spoke of her amazement at the glimpses she obtained through contact with the Tibetan's mind, of limitless vistas of spiritual truths which she could not possibly have otherwise contacted, and often of a quality she could not possibly express. This experience was the basis of her often-proclaimed but frequently little-understood assertion that all the teachings she was aiding in producing was in fact only the A B C of esoteric knowledge, and that in the future she would gladly abandon any pronouncement in the present teaching, when she found better and more deeply esoteric teaching available. Clear and profound as the teaching actually is in the books published in her name, the truths imparted are so partial and subject to later revelation and expansion that this fact, if constantly remembered, will give us a second much-needed safeguard against that quality of the concrete mind which constantly tends to produce sectarianism.

Vào ngay lúc bắt đầu của nỗ lực hợp tác, và sau khi xem xét cẩn thận, một quyết định giữa Chân Sư Tây Tạng (D.K.) và A.A.B. rằng bà với tư cách là một đệ tử hoạt động ở ngoại cảnh giới, sẽ gánh vác càng nhiều càng tốt trách nhiệm về nghiệp quả trên cõi đó, và rằng giáo lý sẽ đến với quần chúng với chữ ký của bà. Điều này bao hàm cái gánh nặng ở vị thế lãnh đạo trong lãnh vực huyền bí, và sự tấn công và lên án được kết tụ từ những người và các tổ chức mà các vị thế và các hoạt động của họ có tính cách Song Ngư hơn và độc đoán.

At the very beginning of the joint effort and after careful consideration it was decided between the Tibetan (D.K.) and A.A.B. that she as the working disciple on the outer plane should shoulder as much as possible of karmic responsibility on that plane, and that the teaching should go to the public over her signature. This involved the burden of leadership in the esoteric field and precipitated attack and condemnation from persons and organisations whose positions and activities were more Piscean and authoritarian.

Toàn bộ nền tảng mà giáo lý huyền môn dựa vào trước quần chúng ngày nay đã được giải thoát khỏi các giới hạn và các dại dột của sự bí mật, sự mê hoặc, sự yêu sách và tính không thực tế, bởi địa vị mà Chân Sư Tây Tạng và A.A.B đã có được. Lập trường đã có được chống lại sự khẳng định có tính cách giáo điều đã giúp thiết lập một kỷ nguyên mới của sự tự do về trí tuệ cho các môn sinh về sự mặc khải đang khai mở dần dần Minh Triết Ngàn Đời.

The entire platform upon which esoteric teaching stands before the public today has been liberated from the limitations and follies of mystery, glamour, claim-making and impracticality, by the position taken by the Tibetan and A.A.B. The stand taken against dogmatic assertion has helped to establish a new era of mental freedom for the students of the progressively unfolding revelation of the Ageless Wisdom.

[viii] Phương pháp xưa cũ để đạt đến chân lý bằng tiến trình chấp nhận các thẩm quyền mới và so sánh chúng với các giáo lý đã được lập ra trước đây, trong khi giáo lý có giá trị chắc chắn trong việc luyện trí đang dần bị qua mặt. Trong cả hai thế giới tôn giáo và triết lý, đang xuất hiện một năng lực mới để chiếm giữ một vị thế khoa học hơn. Giáo lý thiêng liêng sẽ ngày càng được chấp nhận như là một giả thuyết phải được chứng thực ít hơn bởi triết học kinh viện, nền tảng và thẩm quyền của lịch sử, và nhiều hơn bởi các kết quả của hiệu quả của nó trên sự sống đã trải qua và sự hữu ích thực tiễn của nó trong việc giải quyết các vấn đề của nhân loại.

[viii] The age-old method of arriving at truth by the process of accepting new authorities and comparing them with previously established doctrines, while of undoubted value in the training of the mind, is gradually being transcended. In its place is emerging in both the religious and philosophical worlds a new capacity to take a more scientific position. Spiritual teaching will be increasingly accepted as an hypothesis to be proved less by scholasticism, historical foundation and authority, and more by the results of its effect upon the life lived and its practical usefulness in solving the problems of humanity.

Trước đây, giáo lý huyền môn tiên tiến hầu như luôn luôn có thể có được chỉ bởi sự chấp nhận của môn sinh về thẩm quyền vị huấn sư, các mức độ khác nhau về sự phục tùng cá nhân đối với vị huấn sư đó, và các lời thề giữ bí mật. Khi thời hưng thịnh của kỷ nguyên mới Bảo Bình phát triển, thì các giới hạn này sẽ biến mất. Mối quan hệ cá nhân của đệ tử với Chân Sư vẫn tồn tại, nhưng việc dạy dỗ đệ tử đã được cố gắng trong sự hình thành Nhóm. Việc ghi nhận một thử nghiệm như thế và nỗ lực sử dụng phương pháp của kỷ nguyên mới này đã được đưa ra cho công chúng trong quyển sách có tựa Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, sách này đưa ra các giáo huấn cá nhân trực tiếp của Chân Sư Tây Tạng cho một nhóm đệ tử được chọn.

Heretofore, advanced esoteric teaching has almost invariably been obtainable only by the student’s acceptance of the authority of the teacher, varying degrees of personal obedience to that teacher and pledges of secrecy. As the new Aquarian dispensation progresses these limitations will disappear. The personal relation of the disciple to the Master remains, but already discipleship training has been attempted in Group formation. The record of one such experiment and attempt to use this new age method has been made available to the public in the book entitled Discipleship in the New Age, which gives the direct personal instructions by the Tibetan to a selected group.

Trong bộ Luận Về Lửa Càn Khôn, Chân Sư Tây Tạng đã đưa ra cho chúng ta những gì mà bà H.P. Blavatsky đã tiên đoán là Ngài sẽ đưa ra, cụ thể là chìa khoá tâm lý học cho Sự Sáng Tạo Vũ Trụ. H.P.B. đã phát biểu rằng trong thế kỷ 20, một đệ tử sẽ xuất hiện, người đó sẽ đưa ra chìa khoá tâm lý học cho tác phẩm vĩ đại của chính bà, bộ luận mà Chân Sư Tây Tạng đã cộng tác với bà (bộ Giáo Lý Bí Nhiệm – ND); và Alice A. Bailey đã làm việc trong sự nhận thức hoàn toàn về nhiệm vụ của chính bà theo trình tự này.

In A Treatise on Cosmic Fire the Tibetan has given us what H. P. Blavatsky prophesied he would give, namely the psychological key to the Cosmic Creation. H.P.B. stated that in the 20th century a disciple would come who would give the psychological key to her own monumental work The Secret Doctrine on which treatise the Tibetan worked with her; and Alice A. Bailey worked in complete recognition of her own task in this sequence.

FOSTER BAILEY

FOSTER BAILEY

Tunbridge Wells

Tunbridge Wells

Tháng 12 – 1950

December 1950

LỜI NÓI ĐẦU

FOREWORD

[xii] LỜI NÓI ĐẦU

[xii] FOREWORD

Bộ “Luận Về Lửa Càn Khôn” này có năm mục tiêu trước mắt:

This “Treatise on Cosmic Fire” has a fivefold purpose in view:

Thứ nhất: cung cấp một phác thảo súc tích và đại cương cho một hệ thống gồm vũ trụ học, triết học và tâm lý học, vốn có lẽ có thể được dùng cho một thế hệ như là một nguồn tham khảo và một sách giáo khoa, và có thể dùng như là một khung sườn mà giáo huấn chi tiết hơn có thể được kiến tạo trên đó sau này, khi trào lưu vĩ đại của học thuyết tiến hoá tuôn chảy vào.

First,to provide a compact and skeleton outline of a scheme of cosmology, philosophy, and psychology which may perhaps be employed for a generation as a reference and a textbook, and may serve as a scaffolding upon which more detailed instruction may later be built, as the great tide of evolutionary teaching flows on.

Thứ hai: để diễn tả những gì thuộc thế giới chủ quan bằng các thuật ngữ có thể hiểu được, và để chỉ ra bước tiến kế tiếp trong việc tìm hiểu tâm lý học đích thực. Đó là một sự lý giải về mối quan hệ đang tồn tại giữa Tinh Thần với Vật Chất, mà mối quan hệ thể hiện dưới hình thức tâm thức. Ta sẽ thấy rằng Bộ Luận này đề cập chủ yếu đến khía cạnh thể trí, đến tâm thức và đến tâm lý học cao siêu, và đề cập ít hơn đến vật chất theo như chúng ta biết về nó trên cõi trần. Sự nguy hiểm bao hàm trong việc đưa ra thông tin liên quan đến các loại năng lượng đa dạng của chất liệu nguyên tử là quá lớn lao, và cho đến nay, nhân loại còn quá ích kỷ nên không thể được giao phó cho các sức mạnh này. Qua hoạt động đầy năng lực của các nhà khoa học, con người đã đang khám phá ra tri thức cần thiết với mức nhanh chóng thích hợp. Người ta sẽ nhận thấy, trong sách này, sự nhấn mạnh được đặt vào các mãnh lực nào vốn chịu trách nhiệm cho sự biểu lộ ra bên ngoài của một Thái Dương Thượng Đế và của con người, và chỉ trong tiết thứ nhất, sự chỉ dẫn sẽ được đưa ra về bản chất của các năng lượng nào vốn được hạn chế hoàn toàn vào cõi trần.

Secondly, to express that which is subjective in comprehensible terms, and to point out the next step forward in the understanding of the true psychology. It is an elucidation of the relation existing between Spirit and Matter, which relation demonstrates as consciousness. It will be found that the Treatise deals primarily with the aspect of mind, with consciousness and with the higher psychology, and less with matter as we know of it on the physical plane. The danger involved in giving out information concerning the various energies of atomic matter is too great, and the race as yet too selfish to be entrusted with these potencies. Man is already, through the able work of the scientists, discovering the needed knowledge with adequate rapidity. The emphasis in this book will be found to be laid upon those forces which are responsible for the objective manifestation of a solar Logos and of man, and only in the first section will indication be given as to the nature of those energies which are strictly confined to the physical plane.

Thứ ba: cho thấy sự phát triển cố kết của tất cả những gì được tìm thấy bên trong một Thái Dương hệ; chứng tỏ rằng mọi sự vật hiện tồn đều tiến hoá (từ hình thức thấp nhất của sự sống ở mức kết khối dày đặc nhất, lên tới sự biểu lộ thanh mảnh nhất và cao siêu nhất), và rằng mọi hình thức đó chỉ là sự biểu lộ của một Sự Sống kỳ diệu và thiêng liêng. Sự biểu lộ này được tạo ra bởi sự phối hợp của hai trạng thái thiêng liêng qua ảnh hưởng của một trạng thái thứ ba, và tạo ra sự biểu lộ mà chúng ta gọi là một hình tướng, thúc đẩy nó bắt đầu [xiii] chu kỳ tiến hoá của nó trong thời gian và không gian. Như vậy hình tướng được đưa tới điểm vốn là một môi trường thích hợp cho sự thể hiện bản chất của những gì mà chúng ta gọi là Thượng Đế.

Thirdly, to show the coherent development of all that is found within a solar system; to demonstrate that everything which exists evolves (from the lowest form of life at the densest point of concretion up to the highest and most tenuous manifestation) and that all forms are but the expression of a stupendous and divine Existence. This expression is caused by the blending of two divine aspects through the influence of a third, and produces the manifestation which we call a form, starting it upon its [xiii] evolutionary cycle in time and space. Thus is form brought to the point where it is an adequate medium for the demonstration of the nature of that which we call God.

Thứ tư: đưa ra thông tin thực tế liên quan đến các điểm tập trung năng lượng được tìm thấy trong các thể dĩ thái của Thái Dương Thượng Đế, là Đại Thiên Địa (macrocosm), và của con người, là Tiểu Thiên Địa (microcosm). Khi lớp nền bằng chất dĩ thái, vốn là chất liệu thực sự nằm dưới mọi hình tướng hữu hình, được hiểu biết, thì một số cuộc cách mạng lớn lao sẽ được mang lại trong các lãnh vực khoa học, y học và hoá học. Chẳng hạn việc nghiên cứu y khoa, sau rốt sẽ được xem xét từ một góc độ mới, và việc thực hành y khoa sẽ được xây dựng dựa trên sự hiểu biết về các định luật phát xạ, về các dòng từ lực, và về các trung tâm lực nằm trong các thể của con người, và mối quan hệ của chúng với các trung tâm lực và các dòng từ lực của Thái Dương Hệ.

Fourthly, to give practical information anent those focal points of energy which are found in the etheric bodies of the solar Logos, the macrocosm, and of man, the microcosm. As the etheric substratum which is the true substance underlying every tangible form is understood, certain great revolutions will be brought about in the domains of science, of medicine and of chemistry. The study of medicine, for instance, will eventually be taken up from a new angle, and its practice will be built upon a comprehension of the laws of radiation, of magnetic currents, and of the force centres found in men's bodies and their relationship to the force centres and currents of the solar system.

Thứ năm: đưa ra một số thông tin nào đó mà từ trước đến giờ không được phổ biến ra ngoài về vị trí và hoạt động của vô số các sinh linh hữu tình vốn hợp thành bản thể của thế giới khách quan; chỉ ra bản chất của các Huyền Giai các Đấng Cao Cả, các Ngài tạo ra bằng chính chất liệu của các Ngài tất cả những gì được thấy và được biết, và chính các Ngài là Linh Hoả (Fire) và là nguyên nhân của tất cả: nhiệt, hơi ấm, sự sống và chuyển động trong vũ trụ. Theo cách này, tác động của Lửa trên Nước, của Nhiệt trong Vật Chất, dù được xem xét về mặt đại thiên địa hay tiểu thiên địa, cũng sẽ được đề cập đến, và một ít ánh sáng nào đó sẽ được được chiếu rọi vào Định Luật Nhân và Quả (hay Định Luật Nghiệp Quả) và ý nghĩa của nó trong Thái Dương hệ.

Fifthly, to give some information, hitherto not exoterically imparted as to the place and work of those myriads of sentient lives who form the essence of objectivity; to indicate the nature of those Hierarchies of Existences who form out of their own substance all that is seen and known, and who are themselves Fire and the cause of all the heat, warmth, life and motion in the universe. In this way the action of Fire on Water, of Heat in Matter, whether macrocosmically or microcosmically considered, will be touched upon and some light thrown upon the Law of Cause and Effect (the Law of Karma) and its significance in the solar system.

Để tổng kết vấn đề, giáo lý trong sách này sẽ hướng đến một sự mở rộng tâm thức, và sẽ mang lại một nhận thức về sự tương xứng, như là một nền tảng hoạt động, đối với cả khoa học lẫn tôn giáo, về sự giải thích các tiến trình của thiên nhiên, vốn đã được hệ thống hóa cho chúng ta bởi các Trí Tuệ Xuất Sắc (Master Minds) thuộc mọi thời đại. Giáo lý đó sẽ có khuynh hướng mang lại một phản ứng ủng hộ cho một hệ thống triết học vốn sẽ liên kết cả Tinh Thần lẫn vật chất, đồng thời thể hiện sự hợp nhất căn bản của ý niệm về khoa học và tôn giáo. Hiện giờ, cả hai có phần nào tách biệt nhau, và chúng ta chỉ vừa mới bắt đầu dò dẫm theo con đường trí tuệ của chúng ta ra khỏi các hố sâu của một sự lý giải duy vật. Tuy nhiên, không được quên rằng, theo Định Luật Tác Động và Phản Tác Động, thời kỳ lâu dài của tư tưởng duy vật đã là một giai đoạn cần thiết cho nhân loại, bởi vì chủ nghĩa thần bí của Thời Trung Cổ (# 1) đã dẫn [xiv] chúng ta đi quá xa theo hướng ngược lại. Hiện giờ chúng ta đang hướng đến một tầm nhìn ổn định hơn, và hy vọng rằng bộ luận này có thể tạo thành một phần của tiến trình mà nhờ đó trạng thái cân bằng được đạt đến.

To sum up the matter, the teaching in this book should tend to an expansion of consciousness, and should bring about a recognition of the adequacy, as a working basis, for both science and religion, of that interpretation of the processes of nature which has been formulated for us by the Master Minds of all time. It should tend to bring about a reaction in favor of a system of philosophy which will link both Spirit and matter, and demonstrate the essential unity of the scientific and religious idea. The two are at present somewhat divorced, and we are only just beginning to grope our intellectual way out of the depths of a materialistic interpretation. It must not be forgotten, however, that under the Law of Action and Reaction, the long period of materialistic thought has been a necessary one for humanity, because the mysticism of the Middle Ages has led [xiv] us too far in the opposite direction. We are now tending to a more balanced view, and it is hoped that this treatise may form part of the process through which equilibrium is attained.

Khi nghiên cứu bộ luận này, đạo sinh được yêu cầu ghi nhớ vài điều:

In studying this treatise the student is asked to bear in mind certain things:

a. Khi bàn đến các đề tài này, chúng ta quan tâm tới bản thể (essence) của những sự vật khách quan, tới khía cạnh chủ quan (bên trong) của sự biểu lộ, và tới việc xem xét về lực và năng lượng. Hầu như không thể rút gọn các khái niệm như thế thành các công thức cụ thể và diễn tả các quan niệm đó theo một cách thức sao cho chúng có thể được một kẻ thường nhân thấu hiểu dễ dàng.

a. That in dealing with these subjects we are concerned with the essence of that which is objective, with the subjective side of manifestation, and with the consideration of force and of energy. It is well nigh impossible to reduce such concepts to concrete formulas and to express them in such a way that they can be easily apprehended by the average man.

b. Khi chúng ta dùng các từ ngữ, các nhóm từ và phát biểu dưới dạng của ngôn ngữ hiện đại, thì toàn bộ chủ đề tất nhiên trở nên bị hạn chế và bị thu hẹp lại, vì lẽ đó nhiều chân lý bị mất đi.

b. That as we use words and phrases and speak in terms of modern language the whole subject necessarily becomes limited and dwarfed, and much of the truth is thereby lost.

c. Tất cả những gì trong bộ luận này được đưa ra không theo tinh thần giáo điều, nhưng chỉ là một sự đóng góp vào khối tư tưởng trên chủ đề về các cội nguồn thế giới và vào dữ liệu đã được tích luỹ về bản thể của con người. Điều tốt nhất mà con người có thể đưa ra như là một giải pháp cho vấn đề thế giới cần phải mang lấy một hình thức kép, và sẽ thể hiện qua một đời sống phụng sự tích cực, hướng đến việc cải thiện các điều kiện chung quanh, và qua một sự trình bày về một hệ thống vũ trụ hay kế hoạch nào đó vốn sẽ tìm cách giải thích càng nhiều càng tốt đối với các tình trạng như chúng được thấy hiện hữu. Luận cứ mà con người đưa ra hiện nay đến từ căn bản của các nguyên nhân được biết rõ và đã được chứng minh, và để lại các nguyên nhân không được biết đến hoặc chưa giải thích được, các nguyên nhân sâu xa này phải được coi như là đang tạo ra các nguyên nhân đã thấy và biết, mọi giải pháp mà cho đến nay vẫn thất bại và sẽ tiếp tục thất bại trong mục tiêu của chúng.

c. That all that is in this treatise is offered in no dogmatic spirit but simply as a contribution to the mass of thought upon the subject of world origins and to the data already accumulated as to the nature of man. The best that man can offer as a solution of the world problem must perforce take a dual form and will demonstrate through a life of active service, tending to amelioration of environal conditions, and through a formulation of some cosmological scheme or plan which will seek to account as much as may be for conditions as they are seen to exist. Arguing as men do at present from the basis of the known and the demonstrated and leaving untouched and unaccounted for, those deep-seated causes which must be presumed to be producing the seen and known, all solutions as yet fail and will continue to fail in their objective.

d. Mọi cố gắng để trình bày bằng ngôn từ những gì vốn phải được cảm nhận và được sống (lived) ngõ hầu được hiểu một cách trung thực, nhất thiết phải chứng tỏ không tương xứng một cách đáng buồn. Tất cả những gì có thể được nói đến, sau rốt sẽ chỉ là các phát biểu phần nào của Đại Chân Lý hãy còn bị che giấu, và phải được đưa ra cho độc giả và môn sinh dưới hình thức chỉ cung cấp một giả thuyết căn bản, và một giải thích gợi ý. Đối với môn sinh có trí tuệ cởi mở và người còn giữ hồi ức trong trí của y rằng chân lý được tiết lộ tăng lên dần, và sẽ hiển nhiên là sự diễn đạt chân lý đầy đủ nhất có thể có vào một thời xa xưa thì sau này sẽ được thấy chỉ là một mảnh của một tổng thế, và [xv] sau này vẫn còn được nhận ra chỉ là các phần nhỏ của một sự thật, và như vậy trong bản thân nó là một sự biến dạng của điều chân thực.

d. That all attempts to formulate in words that which must be felt and lived in order to be truly comprehended must necessarily prove distressingly inadequate. All that can be said will be after all but the partial statements of the great veiled Truth, and must be offered to the reader and student as simply providing a working hypothesis, and a suggestive explanation. To the open-minded student and the man who keeps the recollection in his mind that the truth is progressively revealed, it will be apparent that the fullest expression of the truth possible at any one time will be seen later to be but a fragment of a whole, and [xv] later still be recognised to be only portions of a fact and thus in itself a distortion of the real.

Bộ luận này được đưa ra với hy vọng rằng nó có thể tỏ ra hữu ích cho tất cả những người đi tìm chân lý có tâm trí khoáng đạt, và có giá trị đối với tất cả các những người tìm tòi vào Cội Nguồn bên trong (subjective) của tất cả những gì biểu lộ hữu hình ra bên ngoài (objective). Nó nhằm để cung cấp một kế hoạch hợp lý thuộc cơ tiến hoá của Thái Dương Hệ và chỉ ra cho con người vai trò mà con người phải tham dự như một đơn vị nguyên tử trong một Tổng Thể kết hợp vĩ đại. Trong việc quay bánh xe tiến hoá, mảnh này của Giáo Lý Bí Nhiệm xuất hiện trước thế gian mà không có những khẳng định nào về cội nguồn của nó, tính không thể sai lầm của nó hoặc là độ chính xác trong chi tiết của các phát biểu của nó.

This treatise is put out in the hope that it may prove useful to all broad-minded seekers after truth and of value to all investigators into the subjective Source of all that which is tangibly objective. It aims to provide a reasonably logical plan of systemic evolution and to indicate to man the part he must play as an atomic unit in a great and corporate Whole. This fragment of the Secret Doctrine, in the turning of the evolutionary wheel, goes out to the world making no claims as to its source, its infallibility or the correctness in detail of its statements.

Không một quyển sách nào có được bất cứ gì từ các khẳng định hoặc các tuyên bố có tính giáo điều về giá trị có thẩm quyền về nguồn linh hứng của nó. Nó có thể đứng vững hoặc ngã xuống chỉ trên cơ sở của cái giá trị thực chất riêng của nó, trên giá trị của các gợi ý được đưa ra, và năng lực của nó để thúc đẩy đời sống tâm linh và sự thấu hiểu về mặt trí tuệ của người đọc. Nếu bộ luận này có trong nó bất cứ điều gì là chân lý và thực tại, thì nó sẽ chắc chắn và liên tục thực hiện công việc của nó, mang thông điệp của nó, và như vậy đến được tâm và trí của những người đi tìm chân lý ở khắp nơi. Nếu nó không có chút giá trị nào, và không có căn bản sự thật nào, thì nó sẽ biến mất và sẽ chết, và đúng nhất là như thế. Tất cả những gì được đòi hỏi từ người nghiên cứu bộ luận này là một sự tiếp cận với tinh thần đồng cảm, một sự sẵn lòng xem xét các quan điểm được đưa ra, và sự trung thực và chân thật của tư tưởng, vốn sẽ hướng đến sự phát triển trực giác, sự phán đoán mang tính tinh thần, và một tính phân biện vốn sẽ đưa đến một sự loại bỏ cái giả tạo và một sự hiểu rõ giá trị của cái chân thật.

No book gains anything from dogmatic claims or declarations as to the authoritative value of its source of inspiration. It should stand or fall solely on the basis of its own intrinsic worth, on the value of the suggestions made, and its power to foster the spiritual life and the intellectual apprehension of the reader. If this treatise has within it anything of truth and of reality, it will inevitably and unfailingly do its work, carry its message, and thus reach the hearts and minds of searchers everywhere. If it is of no value, and has no basis in fact, it will disappear and die, and most rightly so. All that is asked from the student of this treatise is a sympathetic approach, a willingness to consider the views put forth and that honesty and sincerity of thought which will tend to the development of the intuition, of spiritual diagnosis, and a discrimination which will lead to a rejection of the false and an appreciation of the true.

Các lời của Đức Phật có vị trí thích đáng nhất của nó ở đây, và đưa ra một kết luận thích hợp cho các nhận xét mở đầu này :

The words of the Buddha most appropriately have their place here, and make a fitting conclusion to these preliminary remarks:

ĐỨC PHẬT ĐÃ NÓI RẰNG:

THE LORD BUDDHA HAS SAID

Chúng ta không được tin vào một điều được nói chỉ bởi vì nó được nói ra; cũng không tin vào các truyền thống vì chúng đã được truyền xuống từ thời xa xưa; cũng không tin vào các đồn đãi, theo đúng nghĩa; cũng không tin vào các bài viết của các vị thông thái, vì các vị thông thái đó đã viết ra chúng; cũng đừng tưởng tượng rằng chúng ta có thể nghi là đã được một Thiên Thần truyền cảm hứng nơi chúng ta (nghĩa là, trong sự cảm hứng được cho là có tính tâm linh); cũng đừng tin vào các kết luận được rút ra từ một giả định tình cờ nào đó mà chúng ta có thể đã thực hiện; cũng không [xvi] được tin vì những gì có vẻ như một sự thiết yếu theo phép loại suy; cũng không được tin chỉ dựa vào thẩm quyền của các huấn sư hoặc các bậc thầy của chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ tin khi nào bài viết, giáo lý hoặc châm ngôn được chứng thực bằng chính lý trí và ý thức của chính chúng ta. Để kết luận, Ngài nói: “Đối với điều này, ta đã dạy các con đừng nên tin chỉ bởi vì các con đã nghe, nhưng khi các con đã tin vào ý thức của các con, thì hãy hành động theo đó và thật nhiều”.

that we must not believe in a thing said merely because it is said; nor traditions because they have been handed down from antiquity; nor rumours, as such; nor writings by sages, because sages wrote them; nor fancies that we may suspect to have been inspired in us by a Deva (that is, in presumed spiritual inspiration); nor from inferences drawn from some haphazard assumption we may have made; nor [xvi] because of what seems an analogical necessity; nor on the mere authority of our teachers or masters. But we are to believe when the writing, doctrine, or saying is corroborated by our own reason and consciousness. “For this,” says he in concluding, “I taught you not to believe merely because you have heard, but when you believed of your consciousness, then to act accordingly and abundantly.”

Giáo Lý Bí Nhiệm III, 401

—Secret Doctrine III. 401.

Mong cho đây có thể là thái độ của mỗi độc giả của Bộ “Luận Về Lửa Càn Khôn” này.

May this be the attitude of every reader of this Treatise on Cosmic Fire.

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY.

Ghi chú:—Trong các cước chú của toàn thể Bộ Luận này, Bộ “Giáo Lý Bí Nhiệm” của bà H.P.Blavatsky được ghi rõ bằng các chữ đầu S.D. Các trang qui chiếu thuộc về “Ấn Bản Được Duyệt Lại Lần Thứ Ba”

Note:—In the footnotes throughout this treatise “The Secret Doctrine” by H. P. Blavatsky is designated by the initials S.D. The page references are to the Third Revised Edition.

[xvii]

[xvii]

LỬA

FIRE

“Giáo lý nội môn nói gì về Lửa ?”

“What says the esoteric teaching with regard to Fire?”

Lửa là hình ảnh hoàn hảo và thuần khiết nhất, trên Trời cũng như dưới thế, của Ngọn Linh Hoả Duy Nhất. Đó là sự sống và cái chết, bắt đầu và kết thúc của mọi đối tượng vật chất. Đó là Chất Liệu Thiêng Liêng“.

Fire is the most perfect and unadulterated reflection, in Heaven as on earth, of the One Flame. It is life and death, the origin and the end of every material thing. It is divine Substance.”

—GLBN I, 146.

—Secret Doctrine I. 146.

Địa cầu của chúng ta và con người chúng ta đều là sản phẩm của Ba Loại Lửa.

Our earth and man (are) the products of the Three Fires.

—GLBN II, 258.

—Secret Doctrine II.258.

Lửa và Ngọn Lửa huỷ diệt thân thể của một vị La Hán; tinh hoa của chúng biến Ngài thành bất tử.

Fire and flame destroy the body of an Arhat; their essence makes him immortal.

—GLBN I, 35

—Secret Doctrine I. 35.

BA LOẠI LỬA

THE THREE FIRES

I. Lửa Nội Tại hay Lửa do Ma Sát

I. The Internal Fire or Fire by Friction.

“Có nhiệt bên trong và nhiệt bên ngoài trong mọi nguyên tử, là hơi thở của Cha (Tinh Thần) và hơi thở (hay nhiệt) của Mẹ (vật chất) ”

“There is heat internal and heat external in every atom, the breath of the Father (Spirit) and the breath (or heat) of the Mother (matter).”

GLBN I, 112

Secret Doctrine I. 112.

II. Lửa Trí Tuệ hay Lửa Thái Dương

II. The Fire of Mind or Solar Fire.

“Lửa tri thức thiêu hủy hết mọi tác động trên cõi của ảo tưởng, do đó những người nào đã có được Lửa đó và được giải phóng thì được gọi là “Lửa”.

“The fire of knowledge burns up all action on the plane of illusion, therefore those who have acquired it and are emancipated are called ‘Fires.’”

GLBN I , 114

Secret Doctrine I.114.

III. Lửa Tinh Thần hay Lửa Điện

III. The Fire of Spirit or Electric Fire.

“Hỡi đệ tử, hãy ngẩng cao đầu, ngươi sẽ thấy một, hay vô số ánh sáng bên trên ngươi, đang bừng cháy trong bầu trời tối đen nửa đêm hay không?”

“Lift up thy head, O Lanoo; dost thou see one, or countless lights above thee, burning in the dark midnight sky?''

“Hỡi Thiên Thần Đạo Sư, con cảm nhận được một Ngọn Lửa; con thấy vô số tia linh quang không tách rời đang chiếu sáng trong đó”.

“I sense one Flame, O Gurudeva; I see countless undetached sparks shining in it.”

GLBN I, 145

Secret Doctrine I. 145.

[xviii]

[xviii]

books/24books/a_treatise_on_cosmic_fire/tcf_0.txt · Last modified: by admin

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki