User Tools

Site Tools


books:24books:a_treatise_on_cosmic_fire:tcf_1061


các hình hài trong giới động vật, trong giới nhân loại và cũng trong giới thiêng liêng nữa.

forms in the animal kingdom, in the human, and, likewise, in the divine.

Theo một số góc nhìn, có thể được xem như “hình hài đích thực” (mà về mặt huyền linh, phải được hiểu như là hình thức năng lượng bằng dĩ thái) giúp cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận sao cho nó trở nên rõ rệt ngay cả với nhà khoa học.

From some angles of vision, it might be regarded as the “true form” (which is to be understood occultly as the etheric form of energy) making its presence felt in such a way that it becomes apparent even to the scientist.

Ở đây, các nhà nghiên cứu nên nhớ hai điều:

Students should here remember two things:

Thứ nhất, trong mọi kết luận huyền linh học, chính là thể năng lượng mới được bàn đến, và sự sống nội tại đàng sau của hình hài mới được nhận biết như là vô cùng quan trọng.

First, that in all occult conclusions, it is the body of energy which is dealt with and the subjective life back of the form which is recognised as being of supreme importance.

Thứ hai, chính biểu lộ ngoại cảnh trọng trược, như đã thường được nhắc đi nhắc lại, không được xem như một nguyên khí chút nào; nhà huyền linh học chỉ bàn đến các nguyên khí mà thôi.

Second, that the dense objective manifestation, as has been reiterated frequently, is not regarded as a principle at all; the occultist deals with principles alone.

Ở đây, có thể là có ích mà nhắc nhở môn sinh rằng ngoài ra, có ba điều phải được nhận biết trong mọi biểu lộ:

It might be of value here to remind the student also that three things have to be recognised in all manifestation:

Thứ nhất, chính cái bên ngoài biểu lộ hữu hình, thụ động, có tính tiếp nhận và vô tổ chức về mặt huyền linh, là không có hình hài và tính cách hữu ích nếu không có kèm theo năng lượng bên trong.

First, that the tangible objective exterior, negative, receptive, and occultly unorganised, is without form and usefulness apart from the inner energy.

Thứ hai, chính “hình hài thực sự” hay là thần lực – hiện thể (force-vehicle) mới kích hoạt và tạo ra sự cố kết của những gì không được tổ chức.

Second, that the “true form” or the force-vehicle energises and produces the cohesion of that which is unorganised.

Thứ ba, chính “tinh hoa không ổn định” (“volatile essence”) hay là Sự Sống cốt yếu của tinh thần (spiritual essential Life), tự tập trung trong một điểm nào đó bên trong “hình hài đích thực” (cccviii).

Third, that the “volatile essence,” or the spiritual essential Life, focuses itself in some one point within the “true form.” (cccviii)


(cccviii):

Sắc tướng (Form): “Mô hình mà theo đó thiên nhiên thực hiện công việc bên ngoài của nó. GLBN II, 107; xem GLBN I, 619.

1. Ý niệm thiêng liêng chuyển từ cái trừu tượng sang cái cụ thể hay sắc tướng hữu hình.

a. Mục tiêu là một phân thân của cái bên trong. GLBN I, 407.

b. Sức thôi thúc là năng lượng Tinh Thần tạo nên biểu lộ ngoại cảnh. GLBN I, 349, 683.

c. Thượng Đế làm biểu lộ ra ngoài một ý tưởng ẩn giấu.

GLBN II, 28.

2. Ba sự việc cần có trước khi bất cứ hình thức năng lượng nào có thể trở nên biểu lộ ra ngoài. GLBN I, 89.

1. Sự thiếu vắng (Privation) … Tách ra. Xung lực mở đầu. Năng lượng. Ý chí.

2. Sắc tướng … Tính chất hoặc hình dạng. Bản chất. Bác ái.

3. Vật chất … Lĩnh vực ngoại cảnh. Hoạt động sáng suốt.

GLBN III, 561.

3. Sự sống đi trước hình hài. GLBN I, 242.

a. Chủ Thể Suy Tưởng bao giờ cũng còn lại. GLBN II, 28.

b. Lực của sự sống là sự chuyển hóa thành năng lượng của tư tưởng của Thượng Đế. Xem GLBN III, 179.

4. Tinh Thần tiến hóa qua hình hài và ra khỏi hình hài.

GLBN I, 680.

a. Tinh Thần phải đạt được ngã thức đầy đủ. GLBN I, 215.

b. Sắc Tướng giam nhốt Tinh Thần. GLBN II, 775.

c. Nguyên khí của giới hạn là sắc tướng. GLBN III, 561.

d. Tinh Thần làm linh hoạt mọi thể. GLBN I, 669, chú thích.

e. Tinh Thần vượt qua chu kỳ của Hiện Tồn (Being). GLBN I, 160.

5. Các devas là cội nguồn của sắc tướng. GLBN I, 488.

Các devas thuộc về hai nhóm lớn:

a. Ahhi là hiện thể của tư tưởng thiêng liêng. GLBN I, 70.

b. Đạo binh âm thanh. GLBN I, 124.

Các Ngài là toàn thể vật chất của bốn cõi cao và của ba cõi thấp.

Có một hình hài vốn kết hợp mọi hình hài. GLBN I, 77, 118.

(cccviii):

Form: “The model according to which nature does its external work.—S. D., II, 107; see S. D., I, 619.
1. Divine ideation passes from the abstract to the concrete or visible form.
a. The objective is an emanation of the subjective.—S. D., I, 407.
b. Impulse is Spirit energy causing objectivity.—S. D., I, 349, 683.
c. The Logos renders objective a concealed thought.—S. D., II, 28.
2. Three things required before any form of energy can become objective:—S. D., I, 89.
1. Privation….Separation. Initial impulse. Energy. Will.
2. Form….Quality or shape. Nature. Love.
3. Matter….Objective sphere. Intelligent activity.
See S. D., III, 561.
3. Life precedes form.—S. D., I, 242.
a. The Thinker ever remains.—S. D., II, 28.
b. Force of life is the transformation into energy of the thought of the Logos.—See S. D., III, 179.
4. Spirit evolves through form and out of form.—S. D., I, 680.
a. Spirit has to acquire full self-consciousness.—S. D., I, 215
b. Form imprisons Spirit.—S. D., II, 775.
c. The principle of limitation is form.—S. D., III, 561.
d. Spirit informs all sheaths.—S. D., I, 669, note.
e. Spirit passes through the cycle of Being.—S. D., I, 160.
5. The devas are the origin of form.—S. D., I, 488.
They exist in two great groups:
a. The Ahhi are the vehicle of divine thought.—S. D., I, 70.
b. The Army of the Voice.—S. D., I, 124.
They are the sum-total of the substance of the four higher planes and of the three lower.
6. There is a form which combines all forms.—S. D., I, 77, 118.

books/24books/a_treatise_on_cosmic_fire/tcf_1061.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki