nhưng cần nêu ra rằng sự tắc nghẽn dĩ thái có thể đưa đến nhiều hình thức bệnh tật và sự thiểu năng trí tuệ. Sự tắc nghẽn dĩ thái đưa đến việc mạng lưới bị dày lên một cách bất thường, và việc dày lên này có thể cản trở, chẳng hạn như, việc tiếp xúc với Chân Ngã hay các nguyên khí cao, và hậu quả xảy ra là sự đần độn và mất quân bình trí tuệ. Nó có thể đưa đến việc phát triển da thịt một cách bất thường, việc trở nên dày của một số cơ quan nội tại, và do đó áp suất tăng quá mức; một phần của thể dĩ thái bị tắc nghẽn có thể đưa đến tình trạng toàn bộ thể xác bị đảo lộn, gây ra nhiều chứng bệnh khác nhau.
but it should be pointed out that etheric congestion may lead to many forms of disease and of mental incompetence. Etheric congestion leads to the thickening of the web to an abnormal extent, and this thickening may prevent, for instance, contact with the higher Self or principles and its resultants, idiocy and mental unbalance. It may lead to abnormal fleshy development, to the thickening of some internal organ, and consequent undue pressure; one portion of the etheric body being congested may lead to the entire physical condition being upset, resulting in diverse complaints.
Sự huỷ hoại mô có thể dẫn đến nhiều loại điên cuồng, nhất là những loại bị coi là không thể chữa được. Việc cháy mạng lưới có thể để cho nhiều luồng cảm dục bên ngoài đi vào mà con người không chống lại được; thật vậy, mô não có thể bị huỷ hoại bởi áp lực này, và sự rối loạn trầm trọng có thể xảy ra do vòng giới hạn dĩ thái đã bị huỷ hoại ở một chỗ nào đó.
Destruction of tissue may lead to insanity of many kinds, especially those kinds deemed incurable. The burning of the web may let in extraneous astral currents against which man is helpless; the brain tissue may be literally destroyed by this pressure, and serious trouble be caused through the etheric ring-pass-not having been destroyed in some one place.
Một tình trạng về các sự việc tương tự như thế có thể được nhận thấy có liên hệ tới hành tinh. Sau này, thông tin có thể được đưa ra, điều mà hiện nay còn được che giấu; việc đó sẽ cho thấy rằng toàn thể các giống dân bị ảnh hưởng và một vài giới trong thiên nhiên bị rối loạn do việc tắc nghẽn dĩ thái hay là sự tiêu huỷ mô dĩ thái hành tinh.
In connection with the planet a similar state of affairs may be found. Later information may be forthcoming, which is at present withheld; this will show that whole races have been influenced, and certain kingdoms of nature troubled by planetary etheric congestion, or the destruction of planetary etheric tissue.
Chúng ta đã đề cập đến các bệnh liên quan đến chức năng và cấu tạo của thể dĩ thái, nêu ra một số chỉ dẫn để mở rộng quan niệm đến các lãnh vực khác hơn là lãnh vực thuần tuý nhân loại. Chìa khoá nằm trong giới nhân loại, nhưng việc xoay chìa khoá đó mở ra một cánh cửa đến một sự hiểu biết rộng rãi hơn khi nó chấp nhận một người vào trong các bí nhiệm của thiên nhiên. Dù chìa khoá đó phải được xoay bảy lần, tuy nhiên, ngay cả chỉ một lần xoay cũng tiết lộ các con đường chưa được nói đến về sự hiểu biết tối hậu (xlviii-47), (xlix-48).
We have dealt with the functional and organic ills of the etheric, giving certain indications for the extension of the concept to other realms than the purely human. In the human kingdom lies the key, but the turning of that key opens up a door to a wider interpretation as it admits one into the mysteries of nature. Though that key has to be turned seven times, yet even one turn reveals untold avenues of eventual comprehension. (xlviii-47), (xlix-48)
(xlviii-47):
Chìa khoá Giáo Lý Bí Nhiệm (The keys to the Secret Doctrine), của bà H.P.Blavatsky. Xem —GLBN I, 343; chú thích; II, 551.
1. Mỗi biểu tượng (symbol) và ẩn từ (allegory) đều có bảy chìa khoá. —GLBN II, 567; III, 3.
2. Chỉ có ba chìa khoá hữu dụng trong thế kỷ XIX. —GLBN II, 543. Đối chiếu với II, 617, 842.
3. Có bảy chìa khoá dẫn đến cửa vào các Bí Nhiệm. —GLBN III, 178. Đối chiếu I, 346; II, 330; II 668; II, 731.
4. Các chìa khoá như bà Blavatsky đề cập đến là :
a. Về tâm lý học (Psychological). —GLBN II, 25, chú thích; I, 389.
b. Về thiên văn học (Astronomical). —GLBN II, 25, chú thích; I, 389; III, 198
c. Về vật lý hay sinh lý học. —GLBN II, 25, chú thích; III, 198.
d. Về siêu hình học (Metaphysical) —GLBN II, 25, chú thích; II, 394
e. Về nhân chủng học . —GLBN I, 389; III, 198
f. Về chiêm tinh học (Astrological). —GLBN II , 343
g. Về hình học (Geometrical). —GLBN II, 494, III, 176
h. Về huyền học (Mystical). —GLBN I, 401
i. Về biểu tượng học (Symbolical), —GLBN II, 561
j. Về số học (Numerical). —GLBN II, 198
5. Mỗi chìa khoá phải được xoay bảy lần, —GLBN I, 22
6. Người Do Thái đã sử dụng được hai trong số bảy chìa khoá.
7. Chìa khoá siêu hình học thì có sẵn. —GLBN I, 338. Đối chiếu với III, 198.
(xlviii-47):
The keys to the Secret Doctrine, by H. P. Blavatsky. See S. D., I, 343; note; II, 551.
1. Every symbol and allegory has seven keys.—S. D., II, 567; III, 3.
2. Only three keys available in the nineteenth century.—S. D., II, 543. Compare II, 617, 842.
3. There are seven keys to the Entrance door to the Mysteries.—S. D., III, 178. Compare I, 346; II, 330; II, 668, II, 731.
4. The keys, as hinted by H. P. B., are:
a. Psychological.—S. D., II, 25, note; I, 389.
b. Astronomical.—S. D., II, 25, note; I, 389; III, 198.
c. Physical or physiological.—S. D., II, 25, note; III, 198.
d. Metaphysical.—S. D., II, 25, note; II, 394.
e. Anthropological.—S. D., I, 389; III, 198.
f. Astrological.—S. D., II, 343.
g. Geometrical.—S. D., II, 494; III, 176.
h. Mystical.—S. D., I, 401.
i. Symbolical.—S. D., II, 561.
j. Numerical.—S. D., II, 198.
5. Each key must be turned seven times.—S. D., I, 22.
6. The Jews availed themselves of two keys out of the seven.
7. The Metaphysical key is available.—S. D., I, 338. Compare III, 198.
(xlix-48):
“Bảy chìa khoá mở ra các bí nhiệm, quá khứ và tương lai, của bảy căn chủng lớn và của bảy thiên kiếp (kalpas)”. Mọi sách vở huyền linh học, biểu tượng và ẩn dụ (allegory) có thể phải được diễn giải theo bảy lối. Có ba ổ khoá phải được mở. Bảy chìa khoá. Mỗi quyển sách có thể được đọc theo cách ngoại môn (exotorically), theo cách chủ quan (subjectively) và theo phương diện tinh thần. Mọi chìa khoá đều chưa khả dụng. (Xem GLBN I, 330, 343). Có chìa khoá sinh lý học, tâm lý học, chiêm tinh học và chìa khoá siêu hình học. Chìa khoá thứ năm là hình học.
(xlix-48):
“The seven keys open the mysteries, past and future, of the seven great rootraces and of the seven kalpas.” Every occult book, symbol and allegory can be subjected to seven interpretations. There are three locks to be opened. Seven keys. Every book can be read exoterically, subjectively and spiritually. All the keys are not yet available. (See Secret Doctrine, I, 330, 343.) There is the physiological key, the psychological, the astrological and the metaphysical. The fifth key is the geometrical.
