chu vi thể nguyên nhân, tuy nhiên, theo quan điểm của tâm thức, có cái cần phải được bắc cầu. Lại nữa, giữa bí huyệt hành tủy với bí huyệt cao nhất trên đầu, có một hố ngăn cách khác – tương ứng với hố ngăn cách được tìm thấy giữa cõi của Ego với điểm thấp nhất của Triad, tức vi tử thường tồn thượng trí. Khi con người đã tạo ra được antaskarana (mà y đang làm trong các giai đoạn cuối cùng của bước tiến hóa của mình trong ba cõi thấp) hố ngăn cách đó được lấp lại, Chân Thần và Ego được liên kết chặt chẽ. Khi con người được an trụ vào trong thể trí của mình, y bắt đầu lập được cầu antaskarana. Khi bí huyệt giữa hai bả vai, được nói đến ở trên trong Bộ Luận này như là bí huyệt trí tuệ, đang rung động mạnh mẽ, lúc bấy giờ bí huyệt hành tủy và bí huyệt đầu, xuyên qua bí huyệt cổ họng có thể được nối liền.
causal periphery, nevertheless, from the standpoint of consciousness there is that which must be bridged. Again, between the alta major centre and the supreme head centre, exists another gulf—a correspondence to the gulf found between the plane of the Ego and the lowest point of the Triad, the manasic permanent atom. When man has constructed the antaskarana (which he does during the final stages of his evolution in the three worlds) that gulf is bridged and the Monad and the Ego are closely linked. When man is polarised in his mental body, he begins to bridge the antaskarana. When the centre between the shoulder blades, referred to earlier in this Treatise as the manasic centre, is vibrating forcefully, then the alta major centre and the head centre, via the throat centre can be united.
Khi đạt đến giai đoạn này, con người trở thành một kẻ sáng tạo trong chất trí có một tiêu chuẩn khác với người bậc trung đang hoạt động một cách vô tâm. Y làm việc chặt chẽ với thiên cơ và Manasaputra thiêng liêng, tức Con của Trí Tuệ, sẽ chuyển sự chú ý của y từ chỗ vốn là một Con của Quyền Năng trong ba cõi thấp và trung tâm chú ý của y trong Tam Thượng Thể Tinh Thần, thế là tóm tắt lại trên một vòng xoắn cao hơn, công việc mà y đã làm trước kia với tư cách con người. Điều này có thể xảy ra khi sự tăng trưởng của tam giác vừa được bàn đến ở trên (đáy xương sống, bí huyệt hành tủy và bí huyệt cổ họng, khi chúng thống nhất trong đầu) được song hành bằng một tam bộ khác, đó là bí huyệt nhật tùng, tim và mắt thứ ba. Qua chúng, năng lượng hòa nhập được hợp nhất một cách tương tự trong cùng bí huyệt đầu. Mắt thứ ba là một trung tâm năng lượng được con người tạo nên; đó là một tương ứng với trung tâm năng lượng, tức thể nguyên nhân, do Chân Thần kiến tạo. Bí huyệt hành tủy được kiến tạo một cách tương tự bởi các luồng thần lực khác và phù hợp một cách đáng chú ý với hình hài tam phân được Ego tạo ra trong ba cõi thấp.
Man, when he reaches this stage, is a creator in mental matter of a calibre different from the unconsciously working average man. He constructs in unison with the plan and the divine Manasaputra, the Son of Mind, will turn his attention from being a Son of Power in the three worlds and centre his attention in the Spiritual Triad, thus recapitulating on a higher turn of the spiral, the work he earlier did as man. This becomes possible when the growth of the triangle just above dealt with (base of spine, alta major centre and throat, as they unify in the head) is paralleled by another triplicity, the solar plexus, the heart and the third eye; the energy merging through them is similarly unified in the same head centre. The third eye is an energy centre constructed by man; it is a correspondence to the energy centre, the causal body, constructed by the Monad. The alta major centre is similarly constructed by other streams of force and corresponds interestingly to the triple form constructed by the ego in the three worlds.
Khi công việc song đôi này tiến hành đến một trình độ tiến hóa nào đó, một tam bộ khác trở nên linh hoạt trong
When this dual work has proceeded to a certain evolutionary point, another triplicity becomes alive within the
