phương pháp lưu chuyển chính xác từ bí huyệt này đến bí huyệt khác, sẽ điều khiển lửa tiến tới không đúng phương pháp, và dẫn đến đốt cháy các mô; điều này khi ấy sẽ đưa tới (nếu không dẫn tới điều gì tệ hại hơn) một sự đặt lùi lại nhiều kiếp sống của đồng hồ phát triển của y, vì y sẽ phải mất nhiều thời gian trong việc tái tạo lại nơi mà y đã phá hủy, và với việc tóm tắt lại mọi việc phải được thực hiện theo các đường lối đúng đắn.
the correct method of circulation from centre to centre,will drive the fire in unlawful progression and thus burn up tissue; this will result then (if in nothing worse), in a setting back for several lives of the clock of his progress, for he will have to spend much time in rebuilding where he destroyed, and with recapitulating on right lines all the work to be done.
Nếu một người từ kiếp này đến kiếp khác cứ khăng khăng theo đường lối hoạt động này, nếu y thờ ơ với việc phát triển tâm linh của mình, và tập trung vào nỗ lực trí tuệ, hướng sang việc vận dụng vật chất vào các mục đích ích kỷ, nếu y cứ tiếp tục điều này bất chấp sự thôi thúc của bản ngã bên trong của mình, và bất chấp sự cảnh báo có thể đến với y từ các Đấng Quán Sát, và nếu điều này được tiếp tục trong một thời gian dài, thì y có thể đưa chính mình đến chỗ huỷ diệt, vốn là cái chung cục đối với chu kỳ khai nguyên này. Do sự hợp nhất hai lửa vật chất và sự biểu lộ kép của lửa trí tuệ, y có thể thành công trong việc phá huỷ hoàn toàn nguyên tử thường tồn hồng trần, và do đó cắt đứt sự giao tiếp của y với chân ngã trong các thời kỳ rất dài. Bà Blavatsky có đề cập sơ qua về điều này khi nói đến việc “các linh hồn lạc lối” (“lost souls”)(lx-58) (lxi-59). Ở đây, chúng ta phải nhấn mạnh thực tế về tai hoạ thảm khốc này, và gióng lên một tiếng chuông báo động cho những kẻ tiếp cận chủ đề về các lửa vật chất với mọi nguy cơ tiềm tàng của nó. Sự phối hợp các lửa này phải là kết quả của sự hiểu biết đã được tinh thần hoá, và phải được hướng dẫn duy nhất bởi Ánh Sáng của Tinh Thần, vốn hoạt động thông qua bác ái và là bác ái, và tìm kiếm sự hợp nhất này và sự phối hợp hoàn toàn này không theo quan điểm của giác quan, hay của sự ban thưởng về vật chất, mà vì mong muốn sự giải thoát và sự thanh luyện, để có thể thực hiện sự hợp nhất cao cả với Thượng Đế; sự hợp nhất này phải được mong mõi, không phải vì các mục đích ích kỷ, mà bởi vì sự hoàn thiện tập thể vốn là mục tiêu và cơ hội cho việc phụng sự lớn lao hơn đối với nhân loại, phải được thành tựu.
If a man persists from life to life in this line of action, if he neglects his spiritual development and concentrates on intellectual effort turned to the manipulation of matter for selfish ends, if he continues this in spite of the promptings of his inner self, and in spite of the warnings that may reach him from Those who watch, and if this is carried on for a long period he may bring upon himself a destruction that is final for this manvantara or cycle. He may, by the uniting of the two fires of matter and the dual expression of mental fire, succeed in the complete destruction of the physical permanent atom, and thereby sever his connection with the higher self for aeons of time. H. P. B. has somewhat touched on this when speaking of “lost souls”; (lx-58) (lxi-59) we must here emphasise the reality of this dire disaster and sound a warning note to those who approach this subject of the fires of matter with all its latent dangers. The blending of these fires must be the result of spiritualised knowledge, and must be directed solely by the Light of the Spirit, who works through love and is love, and who seeks this unification and this utter merging not from the point of view of sense or of material gratification, but because liberation and purification is desired in order that the higher union with the Logos may be effected; this union must be desired, not for selfish ends, but because group perfection is the goal and scope for greater service to the race must be achieved.
(lx-58):
Xem Isis Unveiled, vol. II, trang 368; GLBN I, 255 và III, 493, 513 – 516, 521, 525, 527
(lx-58):
Lost Souls. See Isis Unveiled, Vol. II, p. 368; also S. D., I, 255, and S. D., III 493, 513-516, 521, 525, 527.
(lxi-59):
GLBN III, 523-529
(lxi-59):
See S. D., III, 523-529.
