Các giác quan là gì? Có bao nhiêu giác quan? Sự liên quan của chúng với Con Người nội tâm, tức Chủ Thể Tư Tưởng, tức Trí Tinh Quân (Manasaputra) thiêng liêng là gì? Đây là các câu hỏi có tầm quan trọng rất thiết yếu, và trong việc hiểu đúng về chúng đưa đến khả năng đi theo con đường tri thức một cách khôn ngoan.
What are the senses? How many are there? And what is their connection with the indwelling Man, the Thinker, the Divine Manasaputra? These are questions of vital moment, and in their due comprehension comes the ability wisely to follow the path of knowledge.
Các giác quan có thể được định nghĩa như là các cơ quan mà nhờ đó con người trở nên ý thức được vạn vật chung quanh mình. Có lẽ chúng ta nên diễn tả chúng không phải như là các cơ quan mà là các phương tiện (vì xét cho cùng, một cơ quan là một hình thái vật chất, tồn tại vì một mục đích nào đó), nhờ đó Chủ Thể Suy Tư (tức Linh Hồn – ND) tiếp xúc được với môi trường quanh mình. Chúng là các phương tiện mà nhờ đó con người tiến hành học hỏi trên cõi vật chất thô trược, chẳng hạn; chúng là phương tiện mà nhờ đó con người mua lấy kinh nghiệm của mình, nhờ đó mà y khám phá ra những gì mà y muốn biết, nhờ đó mà y trở nên có ý thức, và nhờ đó mà y mở rộng tâm thức của y. Chúng ta đang đề cập ở đây về năm giác quan mà con người dùng. Nơi con vật, năm giác quan này cũng có, nhưng, vì khả năng suy tư có tính tương quan bị thiếu, vì “mối liên hệ giữa” ngã với phi ngã chỉ phát triển ít, nên chúng ta sẽ không quan tâm đến chúng vào lúc này. Các giác quan trong giới động vật là quan năng tập thể (group faculty) và thể hiện dưới hình thức bản năng của giống loài. Còn các giác quan trong con người là tài sản cá nhân của y và thể hiện :
The senses might be defined as those organs whereby man becomes aware of his surroundings. We should perhaps express them not so much as organs (for after all, an organ is a material form, existent for a purpose) but as media whereby the Thinker comes in contact with his environment. They are the means whereby he makes investigation on the plane of the gross physical, for instance; the means whereby he buys his experience, whereby he discovers that which he requires to know, whereby he becomes aware, and whereby he expands his consciousness. We are dealing here with the five senses as used by the human being. In the animal these five senses exist but, as the thinking correlating faculty is lacking, as the “relation between” the self and the not-self is but little developed, we will not concern ourselves with them at this juncture. The senses in the animal kingdom are group faculty and demonstrate as racial instinct. The senses in man are his individual asset, and demonstrate:
a. Như là sự nhận thức riêng biệt của ngã thức.
a. As the separate realisation of self-consciousness.
b. Như là năng lực khẳng định tính cách cá nhân.
b. As ability to assert that individualism.
c. Như là một phương tiện quan trọng đối với sự tiến hoá ngã thức.
c. As a valuable means to self-conscious evolution.
d. Như là một cội nguồn của tri thức.
d. As a source of knowledge.
e. Như là năng lực chuyển hoá hướng về việc kết thúc sự sống trong ba cõi thấp.
e. As the transmuting faculty towards the close of life in the three worlds.
Như chúng ta biết, có năm giác quan và theo thứ tự phát triển như sau :
As we know, the senses are five in number and in order of development are as follows:
a.Thính giác
a. Hearing.
b. Xúc giác
b. Touch.
c. Thị giác
c. Sight.
d. Vị giác
d. Taste.
e. Khứu giác
e. Smell.
