User Tools

Site Tools


books:24books:a_treatise_on_cosmic_fire:tcf_279


a. Thượng Đế thức (Logoic consciousness), hay là các trạng thái liên tiếp của sự nhận thức thiêng liêng trong phạm vi thái dương.

a. Logoic consciousness, or the successive states of divine realisation within the solar sphere.

b. Hành tinh thức (Planetary consciousness), hay tâm thức của một Hành Tinh Thượng Đế, khi Ngài liên tiếp hoạt động theo chu kỳ suốt cả hệ thống.

b. Planetary consciousness, or the consciousness of a Heavenly Man as He cycles successively through the scheme.

c. Chân ngã thức, hay sự liên tiếp mở rộng ý thức sáng suốt của một người từ kiếp này đến kiếp khác.

c. Causal consciousness, or the successive expanding of the intelligent awareness of a human being from life to life.

d. Nhân loại thức, hay ý thức của một người trên cõi trần, và tiến dần lên tới cõi cảm dục và cõi trí.

d. Human consciousness, or the awareness of a man on the physical plane, and progressively on the emotional and the mental planes.

e. Tâm thức động vật, thực vật và khoáng chất, khác với tâm thức nhân loại trong nhiều chi tiết, và chủ yếu ở điểm là nó không phối hợp hay suy diễn, và nhận thức được đơn vị cá thể riêng rẽ. Nó tương tự với nhân loại thức ở chỗ nó bao hàm sự đáp ứng với các tiếp xúc liên tiếp của các đơn vị được bao gồm trong các chu kỳ nhỏ của chúng.

e. Animal, vegetable and mineral consciousness which differs from the human consciousness in many particulars, and primarily in that it does not co-ordinate, or deduce and recognise separate identity. It resembles human consciousness in that it covers the response to successive contacts of the units involved during their small cycles.

f. Nguyên tử thức. Thể hiện qua các trạng thái liên tiếp của việc xô đẩy và thu hút. Trong định nghĩa cuối cùng này có chìa khoá cho các trạng thái tâm thức khác.

f. Atomic consciousness, demonstrating through successive states of repulsion and attraction. In this last definition lies the key to the other states of consciousness.

Một nguyên tử xoay trên trục của nó (tạm gọi là nguyên tử A – ND). Trong khi xoay, nguyên tử A tiến vào lãnh vực hoạt động của các nguyên tử khác (tạm gọi là các nguyên tử B − ND). Lúc đó nguyên tử A hoặc là thu hút và làm cho chúng chuyển động nhịp nhàng vào trường hoạt động riêng của nó, hoặc nó đẩy và hướng các nguyên tử B ra bên ngoài phạm vi hoạt động của nó, gây nên sự phân ly. Một điều cần phải ghi nhớ trong khái niệm về sự thu hút lẫn nhau là sự duy trì tính đồng nhất trong sự cố kết.

An atom revolves upon its axis. In its revolution it comes within the field of activity of other atoms. These it either attracts and swings into its own field of operation, or it repulses and drives them outside its range of activity, causing separation. One thing to be borne in mind in the concept of mutual attraction is the preservation of identity in cohesion.

Một con người trong sự biểu lộ khách quan, cũng xoay trên trục của y, hay quanh điểm trung tâm của y, là động cơ chính của sự sinh động của y; điều này đưa y vào trong phạm vi hoạt động của những người khác, tức những nguyên tử nhân loại khác. Điều này, tương tự như vậy, hoặc hướng đến sự hợp tác hay sự cố kết, hoặc là đưa đến sự phân ly hay sự xua đẩy. Một lần nữa cần phải nhớ rằng, ngay cả trong việc kết hợp thì tính đồng nhất cũng được duy trì.

A human being in objective manifestation likewise revolves upon his axis, or around his central point, his mainspring of animation; this brings him within the range of activity of other men, other human atoms. This similarly either tends to co-operation or cohesion, or to separation or repulsion. Again it must be borne in mind that even in cohesion identity is preserved.

books/24books/a_treatise_on_cosmic_fire/tcf_279.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki