User Tools

Site Tools


books:24books:a_treatise_on_cosmic_fire:tcf_746


c. Pralaya của một Thực Thể Thông Linh Vũ Trụ, như là Đấng Chủ Quản (Lord) một dãy hành tinh, Đấng Chủ Quản một hành tinh hệ, và Đấng Chủ Quản một Cung.

c. The pralaya of a cosmic Entity, such as the Lord of a chain, the Lord of a scheme, and the Lord of a Ray.

Tôi nói sự tương ứng theo nghĩa nội môn của nó, và không tìm cách suy đoán sự tương tự ở chi tiết, mà chỉ ở mục tiêu và ở kinh nghiệm. Có thể nói về cả ba trạng thái là, chúng là các giai đoạn phát triển, các chu kỳ dài tham thiền, và các khoảng chuyển tiếp giữa các giai đoạn hoạt động. Do đó sự nhấn mạnh được đặt ra ở Phương Đông và ở mọi trường phái phát triển huyền linh dựa vào việc thiền định, vì đó là cách để đưa đơn vị vào dưới sự phát triển năng lực vốn sẽ tạo ra:

I say correspondence in its esoteric significance, and do not seek to infer analogy in detail, but only in purpose and in experience. It may be said of all three states that they are periods of development, long cycles of meditation, and interludes between stages of activity. Hence the emphasis laid in the East and in all occult schools of development upon meditation, for it is the means of bringing to the unit under development the capacity which will produce:

a. Sự tách ra hay sự giải thoát khỏi hình tướng.

a. Abstraction, or liberation from form.

b. Năng lực sáng tạo.

b. Creative power.

c. Điều khiển năng lượng, nhờ một tác động của ý chí.

c. Direction of energy, through an act of the will.

d. Hoạt động kiến tạo tương lai.

d. Future constructive activity.

Nhờ thiền định, một người tìm thấy sự giải thoát khỏi ảo giác của các giác quan, và sự cám dỗ do rung động của chúng; y tìm thấy trung tâm năng lượng dương của chính y và trở nên có thể hữu thức vận dụng nó; do đó, y trở nên biết được Chân Ngã của y, hoạt động một cách tự do và hữu thức vượt ra các cõi của giác quan; y nhập vào các kế hoạch của Thực Thể vĩ đại mà bên trong năng lực phát xạ của Ngài, y có được một vị trí; kế đó y có thể tiếp tục xúc tiến các kế hoạch này vì y có thể hiểu rõ chúng ở các giai đoạn nhận thức khác nhau; và y trở nên biết được nhất nguyên căn bản. Nhưng khi một người đã tự giải thoát y ra khỏi các đối tượng của giác quan trong ba cõi thấp, y lại trở nên biết được sự cần thiết của việc thiền định thêm nữa, và chính điều này (đối với con người trong ba cõi thấp), là hình thức thiền định phi thường vốn thu hút sự chú ý của vị Chân Sư, và nó được Ngài trải qua trong hai giai đoạn lớn, mỗi giai đoạn đi trước hai Cuộc Điểm Đạo cuối cùng, thứ sáu và thứ bảy. Ở đây tôi không chỉ nói đến các Chân Sư vốn “thực hiện hy sinh” và chọn việc tái sinh để phụng sự trên hành tinh này, mà là đến tất cả các cao đồ. Sự tự do hoạt động trên bất cứ Thánh Đạo nào phải có được bằng

By means of meditation, a man finds freedom from the delusion of the senses, and their vibratory lure; he finds his own positive centre of energy and becomes consciously able to use it; he becomes, therefore, aware of his real Self, functioning freely and consciously beyond the planes of sense; he enters into the plans of the greater Entity within Whose radiatory capacity he has a place; he can then consciously proceed to carry out those plans as he can grasp them at varying stages of realisation; and he becomes aware of essential unity. But when a man has thus freed himself from the objects of sense in the three worlds he again becomes aware of the need of further meditation, and it is this (to man in the three worlds), inconceivable form of meditation that engrosses the attention of the Adept, and which is undertaken by Him in two great stages, each preceding the two final Initiations, the sixth and the seventh. I refer not here only to Adepts who “make the sacrifice,” and choose rebirth for service on the planet, but to all adepts. Freedom to work on any Path must be gained by occult

books/24books/a_treatise_on_cosmic_fire/tcf_746.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki