các Chân Thần bác ái, thì các cánh hoa bác ái dễ được thức tỉnh hơn, vì bác ái là bản chất của cuộc biểu lộ hiện tại, và đường lối bác ái theo một chiều hướng nào đó (thấp, cao, hoặc tâm linh) là đường lối ít đối kháng nhất đối với nhiều người. Tuy nhiên các Chân Thần hoạt động thì có nhiều và có ảnh hưởng, và đối với chúng, cánh hoa thứ nhất trong mỗi vòng dễ khai mở nhất. Đối với cả hai nhóm, cánh hoa “tri thức” được khai mở trước tiên, do bản chất có sẵn của chính các Manasadevas, và rung động căn bản của các thần này. Đối với tất cả mọi người, cánh hoa hy sinh là cái khó nhất, vì nó luôn bao hàm hai yếu tố thông tuệ và bác ái, – tri thức sáng suốt và một tình thương vốn dành cho những gì phải được cứu vớt nhờ sự hy sinh.
Monads of Love, the love petals are more easily awakened, for love is the nature of the present manifestation and the line of love in some direction (low, high, or spiritual) is the line of least resistance for the many. Yet the Monads of activity are numerous and influential and the first petal in each ring is for them the easiest to unfold. For both groups the “knowledge” petal is the first opened, owing to the inherent nature of the Manasadevas themselves, and their basic vibration. For all, sacrifice is the hardest, for it involves ever the two factors of intelligence and love,—intelligent knowledge and a love that goes out to that which must be saved through sacrifice.
Trong ba vòng cánh hoa này có ẩn giấu một manh mối khác đối với bí nhiệm về 777 lần luân hồi. Các con số thì không truyền đạt một số chính xác về các năm, mà chỉ là ẩn dụ và có tính tượng trưng. Chúng được dự định để truyền đạt ý tưởng về ba chu kỳ với kỳ gian thay đổi, căn cứ vào bản chất thất phân của Chân Thần đang biểu lộ.
In these three circles of petals lies concealed another clue to the mystery of the 777 incarnations. The figures do not convey an exact number of years, but are figurative and symbolical; they are intended to convey the thought of three cycles of varying duration, based upon the septenary nature of the manifesting monad.
Thứ nhất. 700 lần lâm phàm. Các lần lâm phàm này liên quan đến sự khai mở của vòng bên ngoài. Đây là thời kỳ dài nhất. Rung động ban đầu thì chậm chạp và nặng nề, và hàng ngàn kiếp sống phải trôi qua trước khi sự trao đổi năng lượng giữa Ego với phản ảnh của nó, là phàm ngã (con người tam phân hạ đẳng), đến nỗi tâm thức của người đó “thức tỉnh” (“awakens”) về mặt huyền linh trong Phòng Học Tập. Đối với người tiến hóa vào lúc này thì các lần luân hồi này đã xảy ra trên dãy nguyệt cầu (moon chain), và trong một số trường hợp thì trên một vài hành tinh được kết nối với cuộc nội tuần hoàn (inner round). Đây là điều kiện đã đòi hỏi sự “nhập-vào” (“coming-in”) của y trong căn chủng Atlantis. Những người thuộc loại này đã từ chối luân hồi trước đây, vì các thể (bodies) thì quá thô trược; đây là sự phản ảnh theo chu kỳ (trên cõi thấp nhất) của việc từ chối luân hồi của các Chân Thần vào lúc bình minh của cơ hội khai nguyên. Không có “tội lỗi” thực sự nào bị phạm phải; đó đã là đặc ân phân biện của họ, và việc khước từ này có
First. The 700 incarnations. These concern the unfoldment of the outer circle. This is the longest period. The initial vibration is slow and heavy, and millenia of lives have to elapse before the interchange of energy between the Ego and its reflection, the personal self (the lower threefold man) is such that the consciousness of the man occultly “awakens” in the Hall of Learning. For advanced man at this time these incarnations took place upon the moon chain and in some cases upon certain planets connected with the inner round. This is the circumstance which necessitated his “coming-in” during the Atlantean root-race. Men of this type refused to incarnate earlier, as the bodies were too coarse; this was the cyclic reflection (on the lowest plane) of the refusal of the Monads to incarnate at the dawn of manvantaric opportunity. No real “sin” was committed; it was their privilege to discriminate, and this refusal has its
