đến việc sử dụng tri thức của chủ thể tri thức, và trong nhiều trường hợp, nó là ký ảnh phức tạp nhất và dông dài nhất trong số các ký ảnh.
with the utilisation of knowledge by the knower, and is in many ways the most intricate and the most lengthy of the records.
Các ký ảnh này chủ yếu được sử dụng bởi Đức Chưởng Quản Thế Gian và các môn đệ của Ngài để xác định thông tin liên quan đến các bí huyệt hành tinh. Chúng được sắp xếp sao cho toàn bộ ký ảnh thuộc bất cứ nhóm nào, dù rộng lớn và trải dài đến đâu đi nữa, cũng được bao gồm trong bảy tấm biểu tượng, mỗi tấm chứa 49 biểu tượng. Các tấm này được thay đổi và được hiệu chỉnh mỗi bảy năm một lần, và được lắng tụ vào chất cảm dục bằng một cố gắng của ý chí bởi Đức Chohan chịu trách nhiệm cho nhóm đặc biệt có liên quan.
These records are mostly used by the Lord of the World and His pupils to ascertain information in connection with the planetary centres. They are arranged in such a way that the entire record of any group, however vast and extensive, is embodied in seven sheets of symbols, each containing forty-nine symbols. These sheets are changed and corrected once every seven years, and are precipitated on astral matter by an effort of will by the Chohan responsible for the particular group involved.
(d) Các cánh hoa và các bí huyệt dĩ thái.
(d.) The Petals and the Etheric Centres.
Giờ đây, còn phải nêu ra mối quan hệ mật thiết giữa sự khai mở của các cánh trong hoa sen Chân Ngã với các bí huyệt dĩ thái trong con người. Chính qua các bí huyệt này mà năng lượng tâm linh chảy qua.
It remains now to point out the close connection between the unfoldment of the petals in the egoic lotuses and the etheric centres in man. It is through the centres that psychic energy flows.
Các môn sinh nên thận trọng ghi nhớ hai sự kiện sau đây:
Students should carefully bear in mind the two following facts:
Thứ nhất, như chúng ta biết, thể dĩ thái được prana cấp sinh lực. Năng lượng prana là tác nhân kích thích hoạt động của sinh vật, và của sự phát triển ở cõi trần. Nó có hiệu quả chủ yếu trên các nguyên tử của xác thân, và nó có một ảnh hưởng ba mặt trên chất liệu của thể xác:
First, the etheric body is vitalised, as we know, by prana. Pranic energy is the stimulator of animal activity, and of physical plane development. Its effect is primarily upon the atoms of the physical body and it has a triple effect upon the substance of the physical body:
a. Nó duy trì sức khỏe sinh vật (animal health) của cơ thể.
a. It preserves the animal health of the body.
b. Nó cấu tạo và xây dựng vào cơ thể, nhờ năng lượng và các luồng thần lực của nó, những gì cần để thay thế sự hao mòn hằng ngày.
b. It constructs and builds in the body, through its energy and force currents, what is needed to replace the daily wear and tear.
c. Nó là trung gian mà nhờ đó con người đi vào việc giao tiếp trên cõi trần với huynh đệ của y. Hiện tượng thu hút ở cõi-trần (physical magnetism) phần lớn tùy thuộc vào prana, mặc dầu không phải toàn bộ.
c. It is the medium whereby man comes into physical touch with his brother man. Physical magnetism is largely, even if not wholly, dependent upon prana.
Các bí huyệt dĩ thái là các xoáy lực (force vortices) được hình thành trong chất dĩ thái bởi xung lực cảm dục, được truyền qua
The etheric centres are the force vortices formed in etheric matter by astral impulse, transmitted via the
