việc đẩy và hút từ điển; và không phải là bằng cách mặc y phục và tìm nơi trú ẩn quá nhiều. Đó phần lớn là một vấn đề về sự an trụ. Một gợi ý có thể được đưa ra ở đây: khi con người hiểu biết sự tiến hoá thiên thần phần nào chính xác hơn và nhận thức hoạt động của các thiên thần theo một vài đường lối liên quan đến Mặt Trời, và hiểu được rằng các thiên thần tiêu biểu cho cực nữ tính, trong khi chính họ đại diện cho cực nam tính (Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là dương tính) (xxxix-39), họ sẽ hiểu sự liên quan hỗ tương và chế ngự sự liên quan đó bằng định luật.
magnetic repulsion and attraction, and not so much by clothing and shelter. It is largely a question of polarisation. One hint might here be given: When men understand the deva evolution somewhat more correctly and recognise their work along certain lines in connection with the Sun and realise that they represent the feminine pole as they themselves represent the masculine (the fourth Creative Hierarchy being male) (xxxix-39) they will comprehend the mutual relationship, and govern that relationship by law.
Các thái dương thiên thần này nhận các tia bức xạ mặt trời đến từ trung tâm mặt trời đi tới vùng ngoại biên theo một trong ba vận hà tiếp cận, chuyển các tia bức xạ đó qua cơ thể của các Ngài và tập trung chúng ở đó. Các Ngài tác động gần giống như tấm kính tập trung ánh sáng mặt trời. Các tia này lúc bấy giờ được phản chiếu hay được truyền đến thể dĩ thái con người, được con người tiếp nhận và lại được đồng hoá. Khi thể dĩ thái đang ở trong trật tự ổn định và đang vận hành chính xác, sinh lực (prana) này được hấp thụ đầy đủ để giữ cho hình hài được ổn định. Đây là toàn bộ mục tiêu sự vận hành của thể dĩ thái, và là một điểm không thể được nhấn mạnh đầy đủ. Phần còn lại được loại ra dưới hình thức bức xạ động vật hay từ điển xác thân − mọi tên gọi đều diễn tả cùng một ý. Do đó, con người lặp lại ở một mức độ nhỏ hơn công việc của các đại thái dương thiên thần, và đến phiên con người lại thêm phần đóng góp bức xạ đã được tái tập trung hay tái từ hoá vào toàn bộ hào quang của hành tinh.
These solar devas take the radiatory rays of the sun which reach from its centre to the periphery along one of the three channels of approach, pass them through their organism and focalise them there. They act almost as a burning glass acts. These rays are then reflected or transmitted to man's etheric body, and caught up by him and again assimilated. When the etheric body is in good order and functioning correctly, enough of this prana is absorbed to keep the form organised. This is the whole object of the etheric body's functioning, and is a point which cannot be sufficiently emphasised. The remainder is cast off in the form of animal radiation, or physical magnetism—all terms expressing the same idea. Man therefore repeats on a lesser scale the work of the great solar devas, and in his turn adds his quota of repolarised or remagnetised emanation to the sumtotal of the planetary aura.
2. Prana hành tinh
2. Planetary prana
Đây là lưu chất cần cho sự sống (vital fluid) được phóng phát từ một hành tinh nào đó, tạo nên màu sắc hay tính chất căn bản của hành tinh đó và được tạo ra do sự lặp lại bên trong hành tinh với cùng tiến trình
This is the vital fluid emanated from any planet, which constitutes its basic coloring or quality, and is produced by a repetition within the planet of the same process
(xxxix-39):
GLBN I, 232-238. Toàn thể vũ trụ được hướng dẫn, kiểm soát và làm linh hoạt bởi một loạt gần như vô tận các Huyền Giai (Hierarchies) gồm các Đấng hữu tình (sentient Beings), mỗi Đấng có một nhiệm vụ phải hoàn thành. GLBN I, 295.
Trong số các Huyền Giai này có Huyền Giai của Chân Thần nhân loại.
(xxxix-39):
S. D., I, 232-238. The whole cosmos is guided, controlled and animated by an almost endless series of Hierarchies of sentient Beings, each having a mission to perform.—S. D., I, 295.
Among these the Hierarchy of human Monads has a place.
