được tiến hành một cách thích hợp, tạo ra một khoảng thời gian tập trung mãnh liệt, và chính vào lúc này mà người tìm đạo phải nắm lấy cơ hội. Nơi đây có một gợi ý.
properly carried forward, produces an interlude of intense concentration and it is in this moment that the aspirant must seize opportunity. Herein lies a hint.
Rồi đến tiến trình thở ra (exhalation). Chúng ta đọc trong Qui Luật IV “y xua hình-tư-tưởng ra khỏi y”. Đây bao giờ cũng là kết quả của giai đoạn cuối cùng của khoa học về hơi thở. Hình-tư-tưởng đó, được truyền sinh khí (vitalized) bởi người hít thở đúng nhịp điệu, lại được gửi ra để thực hiện công việc của nó và hoàn thành nhiệm vụ của nó. Hãy nghiên cứu ý tưởng này một cách cẩn thận, vì nó nắm giữ bí mật của hoạt động sáng tạo.
Then comes the process of exhalation. We read in Rule IV “he drives the thought-form from him.” This is ever the result of the final stage of the science of the breath. The form, vitalized by the one who breathes in correct rhythm, is sent forth to do its work and fulfil its mission. Study this idea with care, for it holds the secret of creative work.
Trong kinh nghiệm của linh hồn, hình thể cho sự biểu lộ trong ba cõi thấp được tạo ra nhờ sự thiền định mãnh liệt, nó bao giờ cũng là hoạt động song song của việc thở. Kế đó, bằng một tác động của ý chí dẫn đến việc “thở ra”, và được sinh ra hoặc được đạt đến một cách năng động trong thời gian chuyển tiếp (interlude) của sự nhập định hoặc lưu giữ hơi thở, hình thể tạo ra được đưa vào thế giới hiện tượng, để dùng như một đường truyền kinh nghiệm, một phương tiện biểu lộ và một bộ máy đáp ứng trong ba cõi thấp của đời sống con người.
In the experience of the soul, the form for manifestation in the three worlds is created through intense meditation, which is ever the paralleling activity of breathing. Then by an act of the will, resulting in a “breathing forth”, and engendered or arrived at dynamically in the interlude of contemplation or retention of the breath, the created form is sent forth into the phenomenal world, to serve as a channel of experience, a medium of expression and a response apparatus in the three worlds of human living.
Trong đời sống của người môn đệ, nhờ thiền định và giới luật, y học cách để đạt được những khoảnh khắc cao của thời kỳ chuyển tiếp, bất cứ khi nào y tập trung các sức mạnh của mình trên cõi của sự sống linh hồn, và sau đó một lần nữa bằng một tác động của ý chí của mình, y truyền thổi ra các mục đích tâm linh, các kế hoạch và sự sống vào thế giới của kinh nghiệm. Các hình-tư-tưởng mà y đã kiến tạo đối với phần việc mà y phải tham gia, và sự tập trung năng lượng mà y đã thành công trong việc mang lại, bắt đầu có hiệu quả. Năng lượng cần cho bước tiếp theo được linh hồn thở ra và chuyển xuống vào thể sinh lực, nhờ thế kiến tạo khí cụ vật chất với hoạt động xây dựng cần thiết. Khía cạnh đó của kế hoạch mà y đã thấu hiểu trong lúc nhập-định, và phần đó của mục đích chung của Thánh Đoàn, mà linh hồn của y cảm thấy được yêu cầu hợp tác trong đó, được thở ra cùng một lúc,
In the life of the disciple, through meditation and discipline he learns to reach high moments of interlude whenever he concentrates his forces on the plane of soul life, and then again by an act of his will, he breathes forth his spiritual purposes, plans and life into the world of experience. The thought form that he has constructed as to the part he has to play, and the concentration of energy which he has succeeded in bringing about become effective. The energy needed for the next step is breathed forth by the soul and passes down into the vital body, thus galvanizing the physical instrument with the needed constructive activity. That aspect of the plan which he has appreciated in contemplation, and that part of the general purpose of the Hierarchy in which his soul feels called upon to co-operate is breathed forth simultaneously,
