sự đáp ứng với tia nắng mặt trời và việc nở ra của chồi búp; đó là cái mà trong giới động vật khiến cho nó thương yêu chủ của nó, đi săn mồi, và tuân theo cuộc sống bản năng của nó; đó là cái mà trong con người, nó làm cho y ý thức về môi trường chung quanh y và nhóm của y, nó khiến cho y sống cuộc đời của y trong ba cõi của sự tiến hóa bình thường của y như kẻ bàng quan, chủ thể nhận thức, diễn viên (actor). Sau rốt chính điều đó khiến cho y phát hiện rằng linh hồn này nơi y vốn có hai phần (dual), phần kia của y đáp ứng với sinh hồn (animal soul), còn phần của y thì nhận ra hồn thiêng (divine soul) của mình. Tuy nhiên, vào lúc này, đa số con người sẽ được nhận thấy là đang hoạt động một cách đầy đủ, không hoàn toàn là sinh hồn, cũng không hoàn toàn là hồn thiêng, mà có thể được xem như nhân hồn (human souls).
response to the sun's rays, and the unfolding of the bud; it is that in the animal kingdom which enables it to love its master, hunt its prey, and follow out its instinctual life; it is that in man which makes him aware of his environment and his group, which enables him to live his life in the three worlds of his normal evolution as the onlooker, the perceiver, the actor. This it is which enables him eventually to discover that this soul in him is dual and that part of him responds to the animal soul and part of him recognises his divine soul. The majority however, at this time will be found to be functioning fully as neither purely animal nor purely divine, but can be regarded as human souls.
5. Linh hồn của vũ trụ − với mục đích làm sáng tỏ – có thể biến phân, hay đúng hơn là (do các giới hạn của hình hài mà linh hồn phải hoạt động qua đó) có khả năng nhận biết ở các mức độ rung động khác nhau và các giai đoạn phát triển khác nhau. Do đó bản chất linh hồn trong vũ trụ biểu lộ trong một vài trạng thái hiểu biết lớn lao với nhiều điều kiện chuyển tiếp, mà đa số các trạng thái có thể được liệt kê như sau:
5. The soul of the universe is—for the sake of clarity—capable of differentiation or rather (owing to the limitations of the form through which that soul has to function) capable of recognition at differing rates of vibration and stages of development. The soul nature in the universe therefore manifests in certain great states of awareness with many intermediate conditions, of which the major can be enumerated as follows:
a. Tâm thức (consciousness), hay trạng thái hiểu biết trong chính vật chất, do bởi sự kiện là Mẹ-Vật Chất đã được làm cho phong phú bởi Cha-Tinh Thần và như thế sự sống và vật chất được mang lại với nhau. Loại tâm thức này liên quan tới nguyên tử, phân tử và tế bào mà mọi hình hài được tạo nên từ đó. Theo đó, hình tướng của thái-dương-hệ, của một hành tinh và của tất cả những gì được tìm thấy ở trên hoặc ở trong một hành tinh được tạo nên.
a. Consciousness, or that state of awareness in matter itself, due to the fact that Mother-Matter has been fecundated by Father-Spirit and thus life and matter have been brought together. This type of consciousness concerns the atom, molecule and cell of which all forms are constructed. Thus the form of the solar system, of a planet, and of all that is found upon or within a planet is produced.
b. Tâm thức cảm thụ thông minh (Intelligent sentient consciousness), tức là tâm thức được biểu lộ (evidenced) trong giới khoáng chất và giới thực vật. Chính tâm thức này chịu trách nhiệm đối với tính chất, hình dạng (shape) và sắc thái (colouring) của hình hài thực vật và hình hài khoáng chất, và đối với các bản chất đặc thù của chúng nữa.
b. Intelligent sentient consciousness, i.e. that evidenced in the mineral and vegetable kingdoms. It is this which is responsible for the quality, shape, and colouring of the vegetable and mineral forms and for their specific natures.
c. Tâm thức động vật (Animal consciousness), việc ý thức về sự đáp ứng của linh hồn
c. Animal consciousness, the awareness of soul response
