việc gắn bó với hình thức cao nhất được biết đến của chân-lý nằm ở con đường của sự mặc khải xa hơn.
adherence to the highest known form of truth lies the path of further revelation.
b. Một sự nhận thức rằng thái độ bình thản (dispassion) là việc lớn lao cần trau dồi, và rằng một sự tự nguyện chịu đựng một cách vui vẻ một số lớn phiền toái, đau đớn hoặc thống khổ tạm thời, phải được phát triển, khi có trước mắt niềm vinh quang tương lai vốn sẽ xóa đi những bất hạnh của giờ phút đang trải qua.
*b*. A realisation that dispassion is the great thing to cultivate, and that a willingness to undergo joyously any amount of temporary inconvenience, pain or agony, must be developed, having in view the future glory which will blot out the clouds of the passing hour.
c. Một sự nhận thức rằng sự tổng hợp là phương pháp mà nhờ đó việc lĩnh hội được đạt đến, và rằng, bằng cách kết hợp các cặp đối ứng, trung-đạo (middle path) được hoạch đắc, con đường này đưa thẳng đến trung tâm của thành lũy cuối cùng (citadel).
c. A realisation that synthesis is the method whereby comprehension is attained, and that, by blending the pairs of opposites, the middle path is gained that leads straight to the heart of the citadel.
Với ba nhận thức này đang kiểm soát triệt để quan điểm của y về cuộc sống, môn sinh có thể hy vọng, bằng sự nỗ lực tích cực, thắng phục bốn trở ngại mà chúng tôi đã đề cập đến.
With these three things paramountly controlling his views on life, the student may hope, by strenuous endeavour, to overcome the four hindrances which we have touched upon.
Trong khi tiếp tục việc xem xét của chúng ta về Qui Luật thứ hai, chúng ta sẽ bàn trước tiên đến sự liên quan của linh hồn với phàm ngã, chủ yếu là theo quan điểm của thiền định. Do đó, chúng ta đang đề cập đến “ánh sáng vĩ đại hơn”, và sau đó sẽ bàn đến “việc ném lên của ánh sáng thấp hơn”. Điều này cũng theo đường lối với định luật về tri thức huyền bí là người ta nên bắt đầu với những điều phổ quát (universals).
In taking up our consideration of the second Rule we will deal first with the relation of the soul to the personality, primarily from the standpoint of meditation. We are dealing therefore with “the greater light” and will take up later the “throwing upward of the lower light”. This is in line also with the law of occult knowledge that one begins with universals.
Nên nhớ kỹ rằng các qui luật này chỉ dành cho những người nào mà phàm ngã của họ được phối kết và có thể trí của họ đang dần được kiểm soát. Do đó, người đó đang sử dụng hạ trí, tức cái trí lý luận, trong khi linh hồn đang vận dụng thượng trí tức là cái trí trừu tượng. Cả hai đơn vị đều đang hoạt động với hai khía cạnh của nguyên khí trí tuệ phổ quát, và trên cơ sở này, mối quan hệ của chúng bắt đầu xảy ra. Công việc của con người với thể trí của y là khiến cho nó tiêu cực và dễ tiếp thu đối với linh hồn, và đây là việc làm tích cực (positive occupation) của y − (ở đây hãy lưu ý đến cách dùng từ “positive” – tích cực − trong nỗ lực làm cho thể trí dễ tiếp thu, vì nơi đây có chứa manh mối cho việc hành động đúng đắn). Công việc của linh hồn trong
It should be borne in mind that these rules are only for those whose personality is coordinated and whose minds are gradually being brought under control. The man therefore is utilising the lower mind, the reasoning mind, whilst the soul is utilising the higher or abstract mind. Both units are working with two aspects of the universal principle of mind, and on this ground their relation becomes possible. The man's work with his mind is to render it negative and receptive to the soul, and this is his positive occupation (note the use here of the word 'positive' in the attempt to make the mind receptive, for herein lies the clue to right action). The soul's work in
