User Tools

Site Tools


books:24books:education_in_the_new_age:ena_0


LỜI NÓI ĐẦU

PREFACE

XU THẾ GIÁO DỤC TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG TRÊN THẾ GIỚI

Quyển sách triết lý giáo dục này ra đời trong thời kỳ khủng hoảng. Lý do là vì hầu như những tư tưởng then chốt trong phạm vi lý thuyết giáo dục ngày nay đều quan tâm sâu sắc đến cả việc bảo tồn và làm cho các giá trị của con người thêm phong phú. Có thể nào chúng ta duy trì chủ nghĩa cá nhân theo lề lối dân chủ của mình hay không trước các mãnh lực chuẩn hoá của nền văn minh cơ khí Tây phương, mà các mãnh lực này cũng có thể bao trùm thế giới Đông phương? Có thể nào chúng ta hóa giải những lề lối chuyên chế, tôn thờ, xu phụng vật chất của một nền văn hóa đang ngày càng hướng về công nghiệp?

This book on educational philosophy comes at a time of crisis, for the theme that runs through critical thinking in the field of educational theory today is characterized by deep concern over both the preservation and the enrichment of human values. Can we maintain our democratic individualism in the face of the standardizing forces of the Western machine civilization which may also engulf the Eastern world? Can we offset the totalitarianisms which deify the materialism of an increasingly industrial culture?

Tháng Năm vừa qua (1953) tôi có tham dự hai ngày hội thảo ở Chicago, được sự bảo trợ của Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ thông cho Người Trưởng thành, một bộ phận của Quỹ Tài trợ Ford. Trung tâm này được lập ra để nói lên mối quan tâm hiện nay ngày càng nhiều về nền tảng tinh thần của nền văn minh chúng ta. Trong phần báo cáo về vấn đề Giáo dục trong Xã hội Dân chủ mà nhóm chúng tôi đã góp phần nghiên cứu, chúng tôi được biết như sau:

In May of this year (1953) I attended a two-day seminar in Chicago, sponsored by The Center for the Study of Liberal Education for Adults, a subdivision of the Ford Foundation, created to express the growing concern of our times for the spiritual basis of our civilization. In the statement of the problem which our group was to study, Education in a Democratic Society, we were informed as follows:

“Giáo dục phải đáp ứng được các nhu cầu của tinh thần con người. Giáo dục phải giúp mọi người phát triển một triết lý sống và ý thức giá trị thỏa đáng cho mỗi cá nhân. Phải giúp họ trau dồi các sở thích văn chương, âm nhạc và mỹ thuật. Đồng thời phải giúp họ tăng cường khả năng phân tích các vấn đề khó khăn và đi đến những kết luận thấu đáo.” [v]

“Education must meet the needs of the human spirit. It must assist persons to develop a satisfactory personal philosophy and sense of values, to cultivate tastes for literature, music and the arts; to grow in ability to analyze problems and arrive at thoughtful conclusions.”

Báo cáo này yêu cầu xem xét lại phần lý thuyết và thực hành giáo dục của chúng ta. Một cuộc khảo sát các phát triển hiện nay cho thấy rằng rốt cuộc các nhà giáo dục chuyên nghiệp đang làm sáng tỏ một triết lý chung. Họ cũng đang hữu ý cố gắng vạch ra một lý thuyết giáo dục đầy đủ cho thế giới mới đang xuất lộ. Triết lý đó phải đáp ứng được ba nhu cầu cơ bản: (1) lý thuyết tâm lý về con người cần được “giáo hoá”; (2) lý thuyết xã hội về loại xã hội mà người ta đang cố [vi] gắng tạo dựng hay bảo tồn để làm điểm tựa thích hợp cho các lý tưởng văn hoá được phổ biến rộng rãi; và (3) thế giới quan hay vũ trụ quan, lý thuyết về vị trí của con người trong vũ trụ mà trong đó con người vừa là khán giả vừa là diễn viên.

This statement demands a re-examination of our educational theory and practice. A survey of current developments proves that, at long last, the professional educators are clarifying a common philosophy and are consciously striving to delineate a theory of education adequate to the new world that is emerging. In such a philosophy three fundamental needs must be met: (1) a psychological theory of the human person to be “educated”; (2) a social theory of the kind of [vi] society one is trying to create or preserve as a suitable home for the cultural ideals promulgated; and (3) a world view or cosmology, a theory of man's place in the universe in which man is spectator and actor.

Vấn đề của chúng ta là làm thế nào đạt được sự tổng hợp tất cả những gì mà Chủ nghĩa Mác và Triết học Tân Kinh viện đưa ra cho những người theo họ. Thế nhưng, đạt sự tổng hợp này bằng phương pháp hợp tác có tự do lựa chọn mà Dewey đã ủng hộ. Trong phạm vi rộng rãi nhất, thế giới quan này sẽ có thể giúp tạo dựng một nền văn minh hành tinh bằng cách dung hợp bất cứ những chân lý nào vượt thời gian và vượt không gian, nói về con người và vũ trụ mà chúng ta có thể chắt lọc từ các nền văn hoá khu vực vào những thời kỳ và tại các địa phương của họ. Bấy giờ, những nguyên tắc phổ quát đó sẽ là các tiêu chí cho Nền Giáo dục trong Kỷ nguyên Mới, theo cách gọi của Chân sư Tây Tạng.

Our problem is to attain the kind of overall synthesis that Marxism and neo-Scholasticism provide for their followers, but to get this by the freely chosen cooperative methods that Dewey advocated. In the broadest terms such a world-view will make possible a planetary civilization by integrating whatever trans-temporal and trans-spatial truths about man and the universe we can extract from all regional cultures in their local times and places. These universal principles will then provide the norms for Education in the New Age, as the Tibetan terms it.

Thế giới ngày nay đang chịu chi phối bởi quan điểm địa phương về văn hoá. Quan điểm này dựa trên tính nhị nguyên trong thái độ khách quan, hướng ngoại của thế giới Tây phương, và tính chủ quan hay hướng nội của các xã hội Á Đông. Khi đến mức cực đoan, mỗi nền văn minh đều bị mất cân bằng trong hướng đi của chính mình. Trong cuộc sống hài hoà, con người cần phải kết hợp cả hai lý tưởng nói [vii]trên để đạt được sự toàn vẹn cho chính mình và cho thế giới của mình. Theo tôi, dường như đây là một chủ đề quan trọng trong công việc hiện nay.

The world today suffers from a cultural provincialism based on the dualism of an outward-looking, objective attitude of the Western world, and an inwardness or subjectivity of Oriental societies. Each of these civilizations, in its extreme form, is over-balanced in its own direction. In harmonious living, man must integrate both ideals to achieve wholeness for himself and his world. This, it seems to me, is one important theme of the present work.

Trong tương lai, phương thuốc chữa trị các bất đồng gay gắt trong xã hội và những phân hoá tâm lý vốn đã cản trở và ngăn chặn các nỗ lực hiện tại nhằm khắc phục những sự chia rẽ trong nhân loại, là việc phục hồi sự thống nhất các nguyên tắc mà dựa vào đó người ta có thể cố gắng dung hợp các giá trị và thành tựu của nhân loại. Hàm ý về mặt giáo dục của sự phát triển này thực rõ ràng. Như Chân sư Tây Tạng đã nêu, ở các tầm mức nội tâm chúng ta phải tạo điều kiện cho sự tái tổng hợp phàm tính của con người. Cũng phải làm thế nào để khắc phục cái ý thức nhị nguyên mà vốn đã tạo ra sự tách biệt trong lĩnh vực văn hoá. Sự tách biệt văn hoá này là do “việc phủ nhận cái ngã” trong nền văn minh ôn hoà của phương Đông vốn là khái niệm chi phối nền văn hoá của họ, và cũng do “chủ nghĩa cá nhân” ưa gây hấn của Tây phương vốn là lý tưởng của người phương Tây. Vì thế, chúng ta cần có sự tổng hợp chính trị của một Liên bang Thế giới, trong đó hai bán cầu Đông và Tây hoạt động như các thùy phải và trái của não bộ con người, với trụ sở chính của cơ quan Đầu não Thế giới đóng vai trò điểm giao thoa của các dây thần kinh hành tinh. Đồng thời cũng cần có lối sống hành tinh, tiêu chuẩn đạo đức hành tinh, và lối cảm nhận hành tinh là động lực mạnh mẽ và cần thiết để làm tròn các nhiệm vụ trọng đại trong thời gian tới.

For the future, the remedy for the social schisms and psychological fissions that have handicapped and obstructed our modern efforts to overcome the divisions of humanity, lies in a restoration of unity of principles upon which an integration of human values and achievements can be attempted. The educational implications of this development are clear. As the Tibetan indicates, on subjective levels we must provide for the resynthesis of human personality and for the overcoming of the double consciousness that has resulted from the cultural fission which made the “self-negation” of the peaceful civilization of the Orient the overpowering concept of its culture, and the aggressive “individualism” of the Occident the ideal of Western man. Accordingly, we need not only the political synthesis of a [vii] World Federation in which the Eastern and Western hemispheres function like the right and left lobes of man's brain, with the seat of the World Brain serving as the point of decussation of the planetary nerves, but we need also a planetary way of life, a planetary ethics, and a planetary way of feeling to supply the powerful drive we shall require for the great tasks that lie ahead of us.

Nay là thời gian để tái tổng hợp cái chủ quan và khách quan, các nền văn minh hướng nội và hướng ngoại, và để đạt được khúc hoà âm vĩ đại của các nền văn hoá. Nhật Bản vốn không có ý định xâm lăng cho đến khi nước này học được thủ đoạn đó của phương Tây. Trước khi Nhật bị buộc phải mở [viii] cửa, nghệ thuật và triết học của họ vốn hài hoà với truyền thống Á Đông. Khi tiếp nhận kỹ thuật Tây phương, Nhật bèn ném bỏ nền văn hoá cổ xưa của mình. Những gì đã xảy ra tại Nhật cũng có thể xảy ra tại tất cả các quốc gia khác ở Á Đông. Thế nhưng, trong khi Nhật là một nước tương đối nhỏ thì Trung Quốc, Ấn Độ và các nước láng giềng đều là những nước rộng lớn và rất đông dân. Cầu Trời cho họ đừng tái diễn lịch sử của Nhật. Hoạt động của chúng ta trong việc tái tổng hợp thế giới, qua cố gắng thấu hiểu và thông cảm, phải bao gồm việc kêu gọi các nước Á Đông hãy bảo tồn và phát triển những giá trị cơ bản của các nền văn hoá trong khu vực. Trong khi phương Tây đang tìm kiếm các nguyên tắc để dựa vào đó có thể xây dựng cuộc sống bình ổn và thành công, thì phương Đông có thể đóng vai trò đối trọng cho tính xu phụng vật chất ưa gây hấn của phương Tây.

The time to resynthesize the objective and subjective, the extrovert and the introvert civilizations and to achieve a great orchestration of culture is now. Japan was not aggressive until the country learned the trick from the West. Before her doors were forced, her arts and philosophy were in tune with oriental tradition. When she adopted Western technology, she threw overboard her ancient culture. What happened in Japan can happen in the rest of the Orient, but whereas Japan was a relatively small country, China, India and their neighbors are vast and populous. Heaven help us if they re-enact the history of Japan. Our activity in the resynthesizing of the world must include, through our own efforts to understand and appreciate, an appeal to the Orient to preserve and develop the fundamental values in its regional cultures. While the West is seeking the principles upon which peaceful and fruitful living can be founded, the East may provide us with the counter-balance to our aggressive materialism.

Nếu sự tổng hợp mới này nhằm phục hồi sự hợp nhất văn hoá và tinh thần trong nhân loại, thì thế giới Tây phương phải tỏ ra khiêm tốn khi hướng về Á Đông. Do bản tính cố hữu, thế giới Đông phương sẽ không phát triển năng lượng vật chất để đến với Tây phương. Người Tây phương đã đi về phương Đông để tìm thị trường, tìm nơi tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp cơ khí của chúng ta, và chúng ta phải trở về thế giới của chính mình, được các năng lượng nội tại của phương Đông thấm nhuần và ý thức điều đó. Sự thâm nhập thương mại mạnh mẽ của chúng ta vào các vùng lãnh thổ và các dân tộc Đông phương rốt cuộc đã mang văn học, triết học và nghệ thuật của Đông phương về Tây phương như là phần lợi nhuận ngoài dự kiến. Nếu muốn, chúng ta có thể sử dụng di sản rộng lớn của nền văn hoá Đông phương hiện có ngay cả trong các thư viện của những vùng lân cận.

If this new synthesis is to restore cultural and spiritual unity in mankind, the Occidental world will have to acquire humility when it turns to the Orient. The Oriental world will not, because of its inherent nature, generate the physical energy to go to the West. We Westerners went into the East in search of markets—outlets for the products of our mechanical power—and we must return to our own world, magnetized by the subjective energies of the East and conscious of it. Our aggressive commercial penetration of Oriental lands and peoples has had the end result of bringing the literature, the philosophy and the arts of the East into the [viii] West as uncalculated dividends. We can, if we choose, make use of the vast heritage of Oriental culture available to us, even in our neighborhood libraries.

Hy vọng chính yếu để có thể sống còn trong thế giới bị phân cực sâu sắc này là ở nỗ lực phi thường nhằm tổng hợp hai nền văn minh khi còn có thời gian. Nếu phương Đông chối từ việc cho phương Tây cơ hội đó, và quyết định gặp gỡ chúng ta chỉ trên cơ sở, lập trường của chúng ta thôi, thì bấy giờ điều này có thể là điểm cáo chung cho câu chuyện của cả Đông và Tây.

Our main hope of survival in this highly polarized world lies in a prodigious effort at synthesis of the two cultures while there is still time. Should the Orient deny us that time and decide to meet us merely on our own grounds, then this might write finis to the story for all of us, East and West.

Trong thời đại công nghiệp theo chủ thuyết bành trướng hiện nay, ngày càng có nhiều bằng chứng về năng lực thâm nhập của tư tưởng Á Đông vào các lĩnh vực khoa học, triết học và nghệ thuật của phương Tây. Y học tâm thần, khoa siêu tâm lý học, tâm lý học phân tích của Jung chỉ là một vài dấu hiệu của các cuộc nghiên cứu đương đại, hướng vào nội tâm. Sự tái nhập của yếu tố tinh thần vào cuộc sống và nền giáo dục, là điều có nhiều ý nghĩa hơn là sự tái hiện một hình thức nào đó của hệ tư tưởng Thiên Chúa giáo trong thời gian đầu.

During our industrial and expansionist age there have been increasing evidences of the permeating power of Oriental thought in the fields of science, philosophy and the arts of the West. Psychosomatic medicine, parapsychology, Jung's analytical psychology are only a few indications of contemporary inwardly-oriented researches. The re-entry of the spiritual factor in life and education is something more than a recrudescence of some earlier forms of Christian ideology.

Trong nền giáo dục này cho Thời đại Mới, loại triết học kết hợp Đông-Tây được Chân sư Tây Tạng đưa ra sẽ có môi trường thích hợp. Ở đây chúng ta có các yếu tố của một lý thuyết đầy đủ, như sau:

In this education for the New Age, the type of East-West philosophy presented by the Tibetan will find its proper setting. Here we have the elements of a complete theory, as follows:

(a) Hoạch định Chủ quan; lý thuyết về sự tự phát triển một cách sáng tạo của mỗi cá nhân;

(a) Subjective Planning; a theory of the creative self-development of the individual.

(b) Hoạch định Khách quan; lý thuyết về một xã hội tốt đẹp cho mọi người sinh sống.

(b) Objective Planning; a theory of the good society for human persons to live in.

Hàm nghĩa tâm lý và xã hội của nền giáo dục cho Thời đại Mới cần được diễn đạt thật rõ ràng. Bước kế tiếp là thử nghiệm mức hữu hiệu của các nguyên tắc trong ứng dụng cụ thể. Việc thử nghiệm phải được thực hiện theo các kỹ thuật vận hành có liên quan đến khoa tâm lý của người Hindu hơn là các phương pháp thực chứng của phương Tây. Nếu chương trình này chưa được kiểm nghiệm hợp lý thì việc vội vàng suy đoán trước vấn đề sẽ chỉ phí thời gian. Tuy nhiên, không nhất thiết phải xem các khảo hướng của phương Đông cổ xưa và của phương Tây hiện nay là hai sự chọn lựa có [ix]tính loại trừ lẫn nhau. Trong một số trường hợp, các khảo hướng này chỉ là hai “ngôn ngữ” được dùng để phát biểu các chân lý chung về bản tính của con người. Vì thế, chúng ta không cần phải xem đây là những vấn đề trái ngược nhau. Sự chuyển dịch giữa các ngôn ngữ có thể làm giảm đi tính xa lạ của thuật ngữ. Ví dụ như quan điểm của Chân sư Tây Tạng cho rằng “tham thiền là tư duy về các sự vật một cách thông suốt” lại chính là học thuyết của Dewey. Khi các yếu tố không quen này giảm bớt, thì người ta sẽ dễ dàng thông cảm nhau hơn.

The psychological and social implications of the education for the New Age must be stated as explicitly as possible. The next step is to test the validity of the principles in concrete applications. The testing must be done in terms of operational techniques relevant to the Hindu psychology, rather than by Western positivistic procedures. Until this program has been given a fair trial, it is a waste of time to attempt to prejudge the issue. Yet it is not necessary to consider the ancient East and the modern West approaches [ix] as two mutually exclusive alternatives. In some instances the approaches are merely two “languages” for stating universal truths about human nature and we are not faced with an either-or antithesis. Intertranslation may reduce the strangeness of terminology. For example, the Tibetan's view that “meditation is thinking things through” is good Dewey doctrine. As the elements of unfamiliarity diminish, understanding is facilitated.

Đề án nghiên cứu được phác họa hết sức vắn tắt trên đây, không phải là ảo tưởng mơ hồ về mặt triết học mà là một nhu cầu cấp bách, ngay trước mắt. Nó được nêu rõ trong một tài liệu do Ban Hoạt động Văn hoá của UNESCo soạn thảo. Tài liệu này đưa ra chủ đề để thảo luận trong các phạm vi: “Khái niệm về Con người và Triết lý Giáo dục ở Đông phương và Tây phương.” Trong tài liệu vừa kể, đề án nói trên được phát biểu như sau:

That the research project so briefly sketched is not some vague philosophical phantasy but an urgent and immediate need is indicated by a document drawn up by the Department for Cultural Activities of Unesco which formulated the theme for discussion in these terms: “The Concept of Man and the Philosophy of Education in East and West.” Here it is stated:

“Unesco không thể giữ thái độ thờ ơ đối với vấn đề này (của Đông và Tây). Unesco buộc phải đối diện trực tiếp với nó ngay trong tình hình thế giới hiện tại. Tình hình này sở dĩ có là do tiến trình thống nhất ngày càng nhanh chóng, sự thu ngắn các khoảng cách, tầm quan trọng ngày càng tăng của ngành công nghệ, trong khi đó tất cả các dân tộc dần dần đạt được độc lập chính trị và trách nhiệm trên trường quốc tế. Trên hết mọi sự là mối bận tâm và tình trạng phức tạp đang ngự trị trong hai nền văn minh lớn của thời trước: chuẩn bị sản sinh nền văn minh duy nhất cho ngày mai, nhưng lại e ngại trước mối đe doạ của một cuộc khủng hoảng trên thế giới vượt ngoài khả năng kiểm soát của mình.”

“Unesco could not remain indifferent to this problem (of East and West); it was bound to face it squarely in the present circumstances of the world, brought about by the increasingly rapid process of unification, the reduction of distances, the growing importance of technology, the gradual attainment by all peoples of political independence and international responsibility and, above all, the disquiet and perplexity prevailing among the two great civilizations of yesterday, ready to give birth to the one civilization of tomorrow but cowering under the threat of a world crisis far beyond their capacity to control.”

Trong một bài báo tựa đề Mục tiêu của chúng ta là Hợp nhất, đăng trong tạp chí Thế giới Tự do, tháng Mười năm 1944, Tiến sĩ Albert Enstein đã tỏ ý tiếc khi nói về “thái độ xu phụng vật chất đáng chê trách đối với cuộc sống, đưa đến sự lan tràn của tính ích kỷ không kiềm chế.” Thế nhưng, có thể nào sửa đổi tính xu phụng vật chất và thái độ ích kỷ trong nền văn hoá của chúng ta? Có phải là bằng những phép đo lường trong nhiều lĩnh vực không-thời gian của thuyết tương đối hay không? Đây hẳn là lối an ủi tẻ nhạt của người có nhiệt tình, và Einstein không muốn nói như thế. Thực ra, Einstein không hề đưa ra giải pháp nào rõ ràng. Sự thực rất đơn giản: đối trọng duy nhất của “tính xu phụng vật chất” là “cố gắng thực hiện các lý tưởng cao đẹp và giá trị tinh thần.” Điều này phải phát xuất từ tâm điểm của khoa học, như một sự phát [x]triển trên đường tiến hoá. Khi nắm được các dữ liệu khoa học, các nhà nghiên cứu phải sử dụng kiến thức hiện nay của chúng ta về Thiên nhiên mà tổng hợp thành các nguyên lý tích hợp để thiết lập khoa vũ trụ học theo Pythagoras- Plato-Bruno – một hình ảnh thế giới tương tự như thuyết phiếm thần của tư tưởng Á Đông, trong đó con người có thể tôn trọng Thiên nhiên vì Thiên nhiên đáng được tôn kính và trân trọng. Loại khoa học nhân văn chỉ xem con người là trung tâm thì mất thăng bằng. Thế nên, cần một triết lý về thế giới, trong đó vũ trụ vô hạn và vĩnh cữu là điểm tựa kia cho đường trục mà công cuộc tổng hợp mới có thể xoay quanh đó và tăng trưởng.

In an article on Our Goal Is Unity in The Free World of October, 1944, Dr. Albert Einstein regretfully took note of “an odious materialistic attitude toward life which leads to the predominance of an unrestrained selfishness.” But how shall this materialism and selfishness of our culture be corrected? By geodesies in the space-time manifold of relativity theory? This would be cold comfort from a warm heart and Einstein does not offer this way out. Indeed, Einstein offers no clear solution. The simple truth is that the only counterweight to “materialism” is “idealism” and this must come out [x] of the very heart of science, as an evolutionary development. Researchers who know the data of science must take our knowledge about nature and synthesize it into a body of integrated principles to establish the Pythagorean-Platonic-Bruno cosmology, a world picture similar to the pantheism of Eastern thought, wherein man can reverence nature because nature is worthy of awe and reverence. A humanism that is exclusively anthropocentric is over-balanced and is in need of a world philosophy in which the infinite and eternal cosmos yields the other pivot for the axis around which the new synthesis can move and grow.

Có một phương thuốc để chữa trị “căn bệnh của con người hiện nay” và nhiều thành phần của phương thuốc được ghi trong quyển sách này, nói về nền giáo dục tương lai. Thực hiện các nguyên lý kể trên là phần việc của chính nhân loại. Quả thực, lý thuyết của nền giáo dục này không vượt ngoài nhu cầu và nhận thức của các nhà giáo dục thời nay. Vì sự kiện thực tế là ở một số nơi đã thực hiện được những bước tiến hành các cuộc thí nghiệm trong ngành giáo dục, nhằm phát biểu nhu cầu tổng hợp. Một điển hình của công cuộc phát triển này là đề án “tự khảo cứu” được Quỹ Tài trợ Ford cấp ngân khoản. Từ đó có đề nghị lập ra Khoa Nghiên cứu Hội nhập tại Đại học Pittsburgh. Bài phát biểu trình bày cuộc thí nghiệm này có một phần ghi lại như sau:

There is a remedy for “the sickness of modern man” and many of its constituents are found in this book on the education of the future. The implementation of the principles involved is the work of humanity itself. That its theories are not beyond the need and grasp of contemporary educationists is borne out by the fact that steps are already taken in several places for the setting up of experiments in education which are to express the need for synthesis. As an example of this development there is the “self-survey” project financed by the Ford Foundation out of which has come a proposal for a Department of Integrating Studies in the University of Pittsburgh. Part of the statement presenting this experiment reads as follows:

“Một khoa mới được đề nghị thành lập tại Đại học Pitts- burgh, ngoài ba phân ngành hiện nay là Khoa học Nhân văn, Khoa học Xã hội và Khoa học Tự nhiên. Khác với các khoa đang có bên trong các phân ngành hiện hữu, khoa mới này được gọi là Khoa Nghiên cứu Hợp nhất. Khoa này nhằm tìm ra những mối tương quan giữa các bộ môn với những chủ đề khác nhau đã có sẵn trong học trình đề nghị của Nhà trường. Mục tiêu chính là bồi dưỡng thói quen tổng hợp trong tư duy, và tìm ra hay tạo ra nguồn minh triết cho cuộc tiến hoá của con người và cho cố gắng tự phát triển của mỗi cá nhân. [xi]

“It has been proposed that a new department, outside the present three distribution fields of the Humanities, the Social Sciences and the Natural Sciences, and different from the departments within existing distribution fields, be established at the University of Pittsburgh. This new department shall be termed the Department of Unified Studies. It shall be concerned with seeking the interrelationships between various subject matter disciplines already available in the offerings of the University. The main objective is to cultivate the habit of reflective synthesis and find or create a body of wisdom for human evolution and personal self-development.

[xi]

[xi]

“Chính những lý giải và hiểu biết kết hợp này không đủ tư cách là một khoa học mà chỉ là sự thấu hiểu tóm lược về những khái niệm và nguyên lý đã có. Thế nên khoa này sẽ không cấp học vị trong chính lĩnh vực hay 'ngành' của nó. Khoa nghiên cứu Hợp nhất chủ yếu phục vụ cho các sinh viên và nhân viên giảng huấn. Nó giúp họ tiến hành các hoạt động chính (nhưng không quan trọng hơn) của họ trong những lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành.

“Since unified interpretation and understanding is not a science in its own right but a synoptic comprehension of antecedent bodies of concepts and principles, this department shall not offer degrees in its own area or 'field.' The Department of Unified Studies is primarily a service department to the students and faculty members carrying on their primary (but not more important) activities in the more specialized areas of study.

“Mãi cho đến nay, các cơ sở đào tạo đại học của chúng ta ít [xii] có nhu cầu bổ sung nói trên. Thế nhưng, với sự gia tăng khối lượng các kiến thức chuyên ngành – đến mức chúng ta đang bị chìm ngập trong hàng núi thông tin và dữ liệu – nên nay đã đến lúc chúng ta cần nghiêm túc xét xem tất cả các kiến thức này có ý nghĩa gì. Nếu Nhà trường không thể tổng hợp các hàm ý bao quát của nền học vấn hiện đại, tức là đã từ bỏ vai trò lịch sử của mình trong việc cung cấp các nguyên lý phổ quát cho những người thấu hiểu được và đang tìm kiếm các lợi ích của cuộc sống tốt đẹp. Nhu cầu cấp thiết này cần được phát biểu và nhận thức rõ ràng, nếu chúng ta muốn đưa ra giải pháp thấu đáo cho vấn đề.

“Until contemporary times, there has been little need for such an adjunct to our institutions of higher learning. But with the increase in size of our specialized bodies of knowledge —to the point where we are burying ourselves under the mountains of information and data—the time has come to take seriously the problem of finding out what all this knowledge means. If the University cannot synthesize the overall implications of modern learning it will abdicate its historic role of providing universal principles for enlightened individuals seeking the benefits of the good life. This urgent need here requires explicit statement and recognition, if we are consciously to design a solution to the problem.

“Mục đích rộng lớn của Sự thăng tiến trong Học vấn (theo cách nói của Bacon) là nhằm soi sáng bốn vấn đề cơ bản của đời người:

“The broad purpose of the Advancement of Learning (to use Bacon's phrase) is to throw light on four basic questions of human existence:

(1) Bản chất của con người?

(1) What is man?

(2) Bản thể của thế giới vật chất (vũ trụ) mà trong đó con người đang sinh sống?

(2) What kind of physical universe (cosmos) is it that man inhabits?

(3) Bằng các quá trình tiến hóa nào mà loài người vượt lên từ trong hệ thống phức tạp của thiên nhiên, để trở thành những cá nhân tự thức và sáng tạo như hiện nay?

(3) By what processes of evolution did the human species emerge from the matrix of nature so that man could become the self-conscious and creative individual he now is?

(4) Theo một số hiểu biết về vũ trụ và bản chất của con người, thì loại xã hội nào là thích hợp nhất cho con người ngày càng tiến hóa hơn?

(4) Knowing something about the cosmos and about human nature, what is the best kind of society for man's progressive self-evolution?

“Khi tìm kiếm đáp án cho các câu hỏi kể trên và cung cấp cho sinh viên sức kích thích cũng như các dữ liệu cần thiết để các em tự tìm ra lời giải cho chính mình, các giảng viên trong Khoa Nghiên cứu Tổng hợp sẽ không tỏ ra là chuyên gia thành thạo về dung hợp. Cùng với các sinh viên có quan tâm, các thành viên của Khoa vẫn sẽ là những người đang [xiv] tìm kiếm sự tổng hợp. Để minh họa loại giáo trình dự định, có thể áp dụng các đề nghị sau đây:

“In seeking answers to these questions and providing students with the stimuli and data necessary to the formulation [xii] of their own answers, the instructors in the Department of Unified Studies will not pose as experts in integration. Along with interested students, the faculty members will be seekers after synthesis. To illustrate the type of courses contemplated, the following possibilities are suggested:

1. Khoa Xã hội học về Tri thức.

1. The Sociology of Knowledge.

2. Mối Tương quan giữa Tôn giáo, Triết học, Khoa học và Nghệ thuật.

2. The Interrelationships of Religion, Philosophy, Science and Art.

3. Lý thuyết Tin học, Điều khiển học và Ngữ nghĩa học.

3. Information Theory, Cybernetics and Semantics.

4. Lịch sử và Triết lý của Khoa học.

4. The History and Philosophy of Science.

5. Lịch sử và các Tiên đề của Thuyết Chính quyền Dân chủ (Hệ tư tưởng).

5. The History and Presuppositions of the Democratic Theory of Government (Ideology).

6. Đóng góp của Sinh học, Xã hội học và Tâm thần học cho Phúc lợi và Tiến bộ của Nhân loại.

6. Contributions of Biology, Sociology and Psychiatry to Human Welfare and Progress.

7. Sự Hợp nhất Tri thức.

7. The Unity of Knowledge.

8. Sự Tiến triển của các Hệ thống Giá trị từ Nền Văn hóa Nguyên thủy đến Nền Văn minh Công nghiệp Hiện đại.

8. The Evolution of Value Systems from Primitive Culture to Modern Industrial Civilization.

“Điều kiện tiên quyết cho tất cả các giáo trình nói trên là chúng sẽ liên hệ ít nhất ba ngành gọi là ngành nghiên cứu. Nhờ đó, khuyến khích các sinh viên và khoa cố gắng tìm kiếm tầm nhìn mới mẻ – 'thường xuyên thấy cuộc sống như một toàn thể.'”

“The first prerequisites of all such courses is that they shall interrelate not less than three so-called departments of study. Thus the students and faculty will be encouraged to search for vision—'seeing life steadily and as a whole.'

Các nguyên lý hạt giống của Chân sư Tây Tạng sẽ có được môi trường thích hợp trong những trường thực nghiệm này.

The Tibetan's seed-principles will find prepared soil in such experimental fields.

OLIVER L. REISER

OLIVER L. REISER

Khoa Triết học

Department of Philosophy

Đại học Pittsburgh

University of Pittsburgh

Pittsburgh, Pennsylvania

Pittsburgh, Pennsylvania

Hoa Kỳ

U.S.A.

books/24books/education_in_the_new_age/ena_0.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki