trạng thái cao nhất; chỉ vào lúc đó, y mới biểu lộ lần đầu tiên sự sống của hình hài và kế đó sự sống của linh hồn bên trong hình hài đó. Kinh nghiệm này có một bản chất cao siêu đến nỗi chỉ có những ai đã trải qua được nó mới có thể hiểu được về bất cứ mặt nào của bất cứ điều mà Tôi có thể nói.
highest aspect; until that time, he has expressed first the life of the form and then the life of the soul within that form. This experience is of so high a nature that only those who have passed through it could in any way comprehend anything I might say.
2. Bí ẩn của Kim Ngưu được tiết lộ ở cuộc điểm đạo thứ hai bằng việc cắt bỏ (removal) hoặc biến mất (disappearance) ảo cảm thế gian trong năng lực không rõ ràng của ánh sáng. Điều này tạo ra hoạt động phát xạ cuối cùng vốn hoàn tất sự tác động của lực Kim Ngưu vào nhân loại trong cuộc du hành dài và theo chu kỳ mà con người đã dự vào. Cá nhân đóng vai diễn ở một mức độ nhỏ những gì mà nhân loại—nói chung—sẽ diễn khi nhân loại nhận được điểm đạo trong Kim Ngưu.
2. The secret of Taurus is revealed at the second initiation by the sudden removal or disappearance of world glamour in the blinding energy of light. This constitutes the final radiant activity which consummates the play of the Taurian force upon humanity during the long and cyclic journey to which man is committed. The individual enacts on a tiny scale what humanity—as a whole—will enact when it takes initiation in Taurus.
3. Bí ẩn của Song Tử phải được hiểu rõ ở cuộc điểm đạo thứ nhất vì đó là bí ẩn về mối liên hệ của Cha, Mẹ và Con. Sự ra đời của Chúa-hài-đồng (Christ-child) trên cõi trần là tột đỉnh vinh quang của mãnh lực Song Tử.
3. The secret of Gemini has to be grasped at the first initiation because it is the mystery of the relation of Father, Mother and Child. The birth of the Christ-child upon the physical plane is the consummating glory of the Gemini force.
Mọi điều này có liên quan với các năng lượng nội tại (subjective energies), chính chúng biểu lộ qua phương tiện của phàm ngã hoặc khía cạnh sắc tướng. Do đó, khi Tôi nói đến các năng lượng nội tại, Tôi muốn ám chỉ đến các mãnh lực đang tuôn ra từ linh hồn (trên các cấp độ linh hồn) đi vào phàm ngã (form nature) trên cảnh giới hiểu biết riêng của nó. Tôi có thể minh giải điều này bằng cách nêu ra rằng dục vọng thì không (theo quan điểm của thực tại) phải là một tính chất cơ bản (subjective quality, tính chất nội tại, bên trong) ngoại trừ ở mức độ mà đó là một lệch lạc hoặc một vận dụng có ma lực lôi cuốn (glamorous use) đối với năng lượng của ý chí. Dục vọng (desire) là sức mạnh của bản chất sắc tướng; ý chí (will) là năng lượng của linh hồn tự biểu hiện theo sự hướng dẫn, sự tiến bộ và tuân theo Thiên Cơ (Plan). Theo quan điểm của cá nhân, Thiên Cơ này phần lớn thuộc về ý chí được mơ hồ cảm nhận từ Thượng Đế ở bất cứ giai đoạn đặc biệt nào trong kinh nghiệm của y, như y có thể nắm bắt và hiểu được. Các phân biệt này cũng đáng xem xét.
All this concerns the subjective energies which express themselves through the medium of the personality or form aspect. When, therefore, I speak of subjective energies, I refer to the forces pouring from the soul (on soul levels) into the form nature upon its own level of awareness. I could illustrate this by pointing out that desire is not (from the angle of reality) a subjective quality except in so far as it is a distortion or a glamorous use of the energy of will. Desire is the force of the form nature; will is the energy of the soul expressing itself as direction, progress, and conformity to the Plan. This Plan, from the standpoint of the individual, is as much of the sensed will of God as he can, at any particular stage in his experience, grasp and understand. These distinctions also merit consideration. The
