việc thực hành nó (khi trong tay của một nhà giải phẫu thành thạo và nổi tiếng) có thể và thường tạo ra một sự chữa lành hay một sự kéo dài đời sống thực sự. Tuy nhiên ngay cả trong lãnh vực đó, ít điều được biết về các kết quả của một cuộc giải phẫu khi nó có thể tác động vào thể dĩ thái và (tất nhiên) vào hệ thần kinh qua hệ thống trung gian gồm các “nadis” hay đối phần dĩ thái của các dây thần kinh. Tôi muốn nêu ví dụ về việc cắt bỏ một cơ quan nào đó. Các kết quả rõ rệt tất nhiên phải hiện diện và một thời kỳ hiệu chỉnh khó khăn chắc chắn phải xảy ra bên trong bộ máy tinh anh của người bệnh. Khu vực cơ thể đã nhận được cách điều trị bằng giải phẫu, và nhất là bí huyệt có liên quan mật thiết nhất với nó phải chịu tác động, vì dòng năng lượng lưu chuyển, xuất phát từ bí huyệt, sẽ thấy nó “bị đoản mạch” (“short circuited.), nếu tôi có thể sử dụng một nhóm từ như thế.
its practice (when in the hands of a sound and reputable surgeon) can and frequently does produce a cure or a real prolongation of life. However, even in that field little is known about the results of an operation as it may affect the etheric body and (consequently) the nervous system through the intermediate system of the “nadis” or the etheric counterpart of the nerves. I would instance the removal of some organ. Definite results must necessarily be present and a period of difficult adjustment must inevitably take place within the subtle mechanism of the patient. The area of the body which has received surgical treatment, and particularly the centre in closest relation to it, must be affected, for the circulatory flow of energy, emanating from the centre, will find itself “short circuited,” if I could use such a phrase.
Cho đến nay, dòng năng lượng này đã chạy qua vùng chăm sóc giải phẫu, phải thực hiện đường đi của nó đến mọi phần của cơ thể, xuyên qua các “nadis”. Như các bạn biết, các nadis này nằm bên dưới và cung cấp năng lượng cần thiết cho hệ thần kinh. Các vận hà cũ dành cho dòng năng lượng sẽ bị loại bỏ, như là kết quả của các biện pháp phẫu thuật, lớn hoặc nhỏ. Các vận hà mới hay các tuyến thần lực, bắc cầu qua vùng “bị cắt xẻo”, sẽ phải được thiết lập và một việc hiệu chỉnh căn bản sẽ phải được tạo ra bên trong cơ cấu sinh động của người bệnh. Cho đến nay hầu như không có gì được biết về tuyến này. Ngay đến trong lãnh vực tìm tòi tiến bộ cũng không hề biết tới.
This flow, which has hitherto passed through the area of surgical attention, must work its way to all parts of the body, via the “nadis”; these, as you know, underlie and feed the needed energy to the nervous system. Old channels for the flow of energy will have been removed, as the result of operative measures, major or minor. New channels or lines of force, bridging the “mutilated” area, will have to be established and a basic adjustment will have to be made within the vital mechanism of the patient. Along this line there is practically nothing as yet known. It is not even yet in the field of advanced research.
Nền y học mới không thể được diễn giải một cách khoa học, hay được trình bày một cách sáng suốt cho đến khi mà sự thật về thể dĩ thái được công nhận, và sự hiện hữu của nó, với vai trò là cơ cấu cung cấp năng lượng và với vai trò là trạng thái sống động của hình hài bên ngoài, được nhận thức phổ biến. Lúc bấy giờ, sự thay đổi chú tâm của y học sẽ tách ra khỏi các hiệu quả vật chất hữu hình ở bên ngoài, và đến các nguyên nhân bên trong, như chúng sẽ được nhận thấy trong các bí huyệt và các lãnh vực hoạt động liên quan của chúng.
The new medicine cannot be scientifically formulated or intelligently presented until such time as the fact of the etheric body is accepted and its existence, as a mechanism of energy supply and as the vital aspect of the outer form, is generally recognised. The shift of the attention of the medical profession will then be away from the outer, tangible, physical effects and to the inner causes, as they are to be found in the centres and their related fields of activity.
