và trong nghi thức mạnh mẽ nhưng ít được hiểu biết của đẳng cấp cao của Hội Tam Điểm, trong đó vị Chân Sư được nâng lên.
appearance, and in the powerful but little understood ritual of the sublime degree in Masonry, wherein the Master is raised.
Vào lúc “chuyển vào ánh sáng”, sự trợ giúp phần lớn tùy thuộc vào hai việc: thứ nhất, số lượng sự tiếp xúc mật thiết giữa người hấp hối với người trông chừng, và phân cảnh mà trên đó sự giao tiếp mạnh nhất. Thứ hai, dựa vào năng lực của kẻ trông chừng để tháo gỡ và tách y ra khỏi các cảm giác riêng của y, và để đồng nhất hóa y, qua một tác động của ý chí hoàn toàn vô kỷ, với người đang hấp hối. Không một điều nào thực sự có thể xảy ra khi sự ràng buộc giữa cả hai thuần về tình cảm hay dựa trên một mối quan hệ ở cõi trần. Sự tiếp xúc phải sâu xa hơn và mạnh mẽ hơn thế. Nó phải là một sự tiếp xúc cá nhân trên mọi cõi. Nơi nào có sự giao tiếp linh hồn và phàm ngã đích thực, bấy giờ nơi đó có ít vấn đề khó khăn. Nhưng điều này hiếm khi tìm thấy. Tuy nhiên, ở đây tôi đã cung cấp cho bạn một gợi ý.
Aid at the time of the “passing into the light” depends largely upon two things: First, the amount of close contact between the dying person and the one who watches, and the level upon which that contact is strongest. Secondly, upon the capacity of the watcher to detach and dissociate himself from his own feelings and to identify himself, through an act of pure unselfish will, with the dying person. None of this is really possible when the bond between the two is purely emotional or based upon a physical plane relation. The contact must be deeper and stronger than that. It must be a personal contact upon all planes. Where there is true soul and personality contact, there is then little problem. But this is rare to find. Nevertheless I have here given you a hint.
Cũng nên có tiến trình tư tưởng càng ít rõ rệt càng tốt về phần kẻ trông chừng. Tất cả những gì được đòi hỏi và có thể có được hiện nay chỉ là mang kẻ hấp hối tiến tới một dòng tình thương luôn sâu sắc. Nhờ năng lực của trí tưởng tượng sáng tạo, chứ không phải nhờ các quan niệm trí tuệ (bất kể cao như thế nào), kẻ hấp hối phải được giúp để tách ra khỏi cái vỏ bọc ngoài mà trong đó y đã được bao vây và trong đó y đã nỗ lực trong kiếp sống. Điều này bao hàm một hành vi hoàn toàn quên mình, mà cho đến nay ít người có khả năng. Đa số con người bị cuốn bởi sự sợ hãi hay bởi một mong muốn mạnh mẽ để giữ người thân yêu trở lại, hay bị lệch mục tiêu của họ bằng các hoạt động có liên quan trong việc làm dịu bớt đau và dập tắt sự thống khổ, họ cũng bị mất tinh thần bởi các độ sâu vô minh của họ về “kỹ thuật chết” khi bị đối diện với trường hợp khẩn cấp. Họ thấy rằng chính họ không thể nhìn thấy những gì ở bên kia các cửa tử và bị cuốn bởi tính không chắc chắn trí tuệ vốn là một phần của
There should also be as little definite thought process as possible on the part of the watcher. All that is required and possible at present is simply to carry the dying person forward on an ever-deepening stream of love. Through the power of the creative imagination, and not through intellectual concepts (no matter how high), must the dying man be aided to discard the outer garment in which he has been encased and in which he has laboured during life. This involves an act of pure self-forgetfulness, of which few as yet are capable. Most people are swept by fear, or by a strong desire to hold the beloved person back, or are sidetracked in their aim by the activities involved in assuaging pain and deadening agony; they are dismayed also by the depths of their ignorance of the “technique of death” when faced with the emergency. They find themselves unable to see what lies beyond the doors of death, and are swept by the mental uncertainty which is part of the great
