là hình thức vật chất thấp nhất, tuy nhiên, là phản ảnh có tính tượng trưng của nó. Đó là một ý thức về sự hài lòng đầy phúc lạc được kết hợp, dựa trên Đấng được nhận thức.
is the lowest form of material, yet symbolic, reflection. It is a sense of coordinated blissful satisfaction, based on realised Being.
2. Một sự triệt thoái ra khỏi ngay cả nhận thức về sự sống này, đến một giai đoạn còn mạnh mẽ và riêng biệt hơn nữa, vốn bao hàm một nhận thức về sự sống của chính Thượng Đế, thoát khỏi hình tướng, nhưng vẫn còn, theo một ý nghĩa bí mật, ý thức về tính chất.
2. A withdrawal from even this life-awareness to a phase still more intensive and detached, which involves an awareness of the life of God Itself, free from form, but still, in a mysterious sense, aware of quality.
Trong ngôn ngữ của thần bí học, việc đó có thể được diễn đạt theo cách này:
In the language of mysticism it might be expressed this way:
“Tôi có một xác thân. Xác thân đó còn sống. Tôi biết sự sống của nó. Vì vậy, tôi biết mẹ tôi.
“I take a body. That body is alive. I know its life. I therefore know my mother.
“Tôi dùng một xác thân. Xác thân đó không phải là tôi. Tôi phụng sự nhóm và trong việc phụng sự này, tôi sống bên trong xác thân, được tách ra, một con của Thượng Đế. Tôi biết Chân Ngã (Self) của tôi.
“I use a body. That body is not me. I serve the group and in this serving live within the body, detached, a son of God. I know my Self.
“Tôi thấm nhuần một cơ thể. Tôi là sự sống của nó, và trong sự sống đó tôi sẽ thấy được sự sống. Sự sống đó được biết như là tình thương. Tôi là tình thương của Thượng Đế. Tôi biết Chúa Cha, và biết sự sống của Ngài là tình thương.
“I infuse a body. I am its life and in that life shall I see life. That life is known as love. I am the love of God. I know the Father, and know His life is love.
“Tôi là thể xác và sự sống đầy yêu thương của nó. Tôi là Chân Ngã, mà tính chất của nó là tình thương. Tôi là sự sống của chính Thượng Đế. Tôi là Mẹ-Cha-Con.
“I am the body and its loving life. I am the Self, whose quality is love. I am the life of God Himself. The Mother-Father-Son am I.
“Đằng sau ba trạng thái này là Thượng Đế bất khả tri. Tôi là Thượng Đế đó”.
“Behind these three there stands the unknown God. That God am I.”
Chúng ta hoàn toàn thấy rõ ràng ngay cả khi trả giá cho sự lặp đi lặp lại. Trong bộ luận này, mặc dù chúng ta có thể nói đến hình hài và xem xét bản chất của nó, chúng ta sẽ đặt trọng tâm vào ngã thức khi nó tự biểu lộ nó như là sự đáp ứng, như là sự nhận thức thuộc một loại đặc biệt mà chúng ta gọi là “tính chất của tâm thức”, hay là đặc điểm có sẵn của nó. Chúng ta luôn luôn có các bộ ba bổ sung, vốn chỉ là các thuật ngữ có tính chất của tính-từ, được dùng để diễn tả tính chất của sự sống biểu lộ.
Let us be perfectly clear even at the expense of reiteration. In this treatise, though we may touch upon form and consider its nature, we shall lay emphasis upon self-consciousness as it expresses itself as responsiveness, as awareness of a peculiar kind which we call the “quality of consciousness,” or its inherent characteristic. We have always the subsidiary triplicities, which are only adjectival terms employed to express the quality of the appearing life.
| | |
|---|---|
| Sắc-tướng Form | Tính dễ thay đổi, sự đáp ứng hữu thức với bức xạ. Vật chất. Mutability, conscious response to radiation. Matter. |
| Ngã-thức Self-Consciousness | Sự đáp ứng. Nhận thức về tính đồng nhất. Linh hồn. Responsiveness. Awareness of identity. Soul. |
| Sự sống Life | Tính không thay đổi. Sự phóng phát. Nguyên nhân. Cội nguồn. Tinh thần. Immutability. Emanation. Cause. Source. Spirit. |
