, một tình thương vốn tạo ra một sắc tướng qua bản chất trí tuệ, và như thế là chủ thể kiến tạo các hình thức hay sắc tướng riêng biệt. Nhờ đặc tính bác ái, linh hồn cũng tạo ra sự hợp nhất của sắc tướng và tính chất, của nhận thức và của hình thức.
love,—a love which produces an appearance through the nature of mind and thus is the builder of the separate forms or appearances. The soul also, through the quality of love, produces the fusion of appearance and of quality, of awareness and of form.
C. Linh hồn (và ở đây ngôn từ hạn chế và biến dạng) là một đơn vị ánh sáng, bị nhuốm màu bởi một rung động cung đặc biệt; nó là một trung tâm năng lượng rung động được tìm thấy bên trong sắc tướng (appearance) hay hình thức (form) của toàn bộ sự sống cung của nó. Đó là một trong bảy nhóm của hàng triệu sự sống mà, trong tổng thể của chúng, tạo thành Sự Sống Duy Nhất. Từ chính bản chất của nó, linh hồn ý thức hay hiểu biết theo ba hướng. Đó là có Thượng Đế thức; tập thể thức; ngã thức (self-conscious). Trạng thái ngã thức này được đưa đến kết quả trong sắc tướng cõi hiện tượng của một con người; trạng thái tập thể thức vẫn duy trì trạng thái ý thức con người, nhưng thêm vào đó nhận thức về sự sống cung của nó, dần dần được khai mở; lúc đó nhận thức của linh hồn là nhận thức về tình thương, về tính chất, về tinh thần trong các mối liên hệ của nó, nó chỉ có Thượng Đế thức một cách tiềm tàng, và trong sự khai mở đó, đối với linh hồn, có ẩn sự phát triển riêng của linh hồn, lên trên và ra ngoài sau khi trạng thái ngã-thức của nó được hoàn thiện và tập-thể-thức của nó được nhận biết. Do đó linh hồn có những điểm, hoặc sắc tướng sau đây:
C. The soul is (and here words limit and distort) a unit of light, coloured by a particular ray vibration; it is a vibrating centre of energy found within the appearance or form of its entire ray life. It is one of seven groups of millions of lives which in their totality constitute the One Life. From its very nature, the soul is conscious or aware in three directions. It is God-conscious; it is group-conscious; it is self-conscious. This self-conscious aspect is brought to fruition in the phenomenal appearance of a human being; the group-conscious aspect retains the human state of consciousness, but adds to it awareness of its ray life, progressively unfolded; its awareness then is the awareness of love, of quality, of spirit in its relationships; it is God-conscious only potentially, and in that unfoldment lies, for the soul, its own growth upward and outward after its self-conscious aspect is perfected and its group-awareness is recognised. The soul therefore has the following points, or appearances:
o …. Tâm thức của Th.Đế của thái dương hệ. Nhất nguyên.
o. . . .Consciousness of God, of solar system. Unity.
.
.
.
.
Linh hồn ooo …. o . Tâm thức của cung, của một trong bảy,
The Soul ooo. . . .o. Consciousness of the ray, of one of the seven,
——- của tính chất thiêng liêng. Ý thức tập thể.
——- of divine quality. Group Consciousness.
/
/
/ .
/ .
/ .
/ .
Người tìm đạo o …. Ngã thức, hiểu biết về sắc tướng. Tính đa dạng của sự sống sắc tướng.
Aspirant o. . . .Self consciousness, awareness of appearance. Diversity of form life.
Những người tìm đạo đang học tập và tự rèn luyện để sống cuộc sống phụng sự có thể được coi là đã đạt đến trình độ mà đường thẳng sẽ được tìm thấy. Để hình dung điều này một cách chính xác,
Aspirants who are studying and training themselves to live the life of service might be regarded as having reached the point where the line is to be found. To visualise this correctly
