sự đau khổ và cảm giác mất mát, bởi vì chúng ta đã có năng lực, luôn tiềm ẩn bên trong chúng ta, để tách biệt chúng ta khỏi các tài sản có được.
pain and the sense of loss, because we have acquired the power, latent ever within ourselves, to detach ourselves from achieved possessions.
Định luật này thể hiện theo nhiều cách, và không thể làm gì nhiều hơn là chỉ ra một vài ý nghĩa tổng quát vốn tiêu biểu cho những bài học lớn của mỗi đệ tử.
This law works out in many ways, and it is not possible to do more than indicate a few of those general significances which embody the major lessons of every disciple.
Đầu tiên, linh hồn phải từ bỏ phàm ngã. Trong nhiều thời đại, linh hồn đã tự đồng nhất hóa nó với bản ngã cá nhân thấp kém, và qua trung gian của bản ngã thấp đó, đã có được kinh nghiệm và hoạch đắc nhiều kiến thức. Phải đến lúc trung gian đó “không còn là thân yêu” với linh hồn, và các vị trí tương ứng của chúng bị đảo ngược. Linh hồn không còn đồng nhất hóa với phàm ngã mà phàm ngã trở nên đồng nhất hóa với linh hồn và mất tính chất và địa vị riêng của nó. Tất cả những gì đã được hoạch đắc qua đấu tranh và xung đột lâu đời, qua nỗi đau và niềm vui, qua bất hạnh và mong muốn được thỏa mãn, và tất cả những gì mà bánh xe sự sống, vốn đã quay không ngừng, đã mang vào trong sự sở hữu của linh hồn – Tất cả phải được vứt bỏ. Cuộc sống, đối với đệ tử, khi đó trở thành một loạt các tiến trình dứt bỏ, cho đến khi y đã học được bài học của sự từ bỏ.
First, the soul must relinquish the personality. For ages, the soul has identified itself with the lower personal self, and through the agency of that lower self has gained experience and acquired much knowledge. The time has to come when that agency is “no longer dear” to the soul, and their respective positions are reversed. No longer is the soul identified with the personality but the personality becomes identified with the soul and loses its separate quality and position. All that has been acquired through age-long struggle and strife, through pain and pleasure, through disaster and satisfied desire, and all that the wheel of life, which has turned ceaselessly, has brought into the possession of the soul—All has to be relinquished. Life, for the disciple, becomes then a series of detaching processes, until he has learnt the lesson of renunciation.
Trình tự là, đầu tiên là sự vô dục (dispassion), sau đó là tính phân biện (discrimination), và cuối cùng là sự dứt bỏ (detachment). Mọi đệ tử phải tham thiền về ba từ này, nếu họ luôn muốn gặt hái những thành quả của sự hy sinh.
The sequence is, first dispassion, then discrimination, and finally detachment. On these three words must all disciples meditate, if they are ever to reap the fruits of sacrifice.
“Sau khi đã tràn ngập các thế giới với một mảnh nhỏ của chính Ta, Ta vẫn còn.” Đó là chủ đề về nỗ lực của linh hồn, và đó là tinh thần phải nằm dưới mọi công việc sáng tạo. Trong tư tưởng này có manh mối cho biểu tượng của Định Luật Hy Sinh – một thập giá màu hồng với một con chim bay ở trên nó. Đây là thập giá thân yêu (màu hồng là màu của tình cảm), với con chim (biểu tượng của linh hồn) bay tự do trong thời gian và không gian.
“Having pervaded the worlds with a fraction of Myself, I remain.” Such is the theme of the soul's endeavor, and such is the spirit which must underlie all creative work. In this thought lies the clue to the symbol of the Law of Sacrifice—a rosy cross with a bird flying over it. This is the loved cross (rose being the colour of affection), with the bird (symbol of the soul) flying free in time and space.
Thứ hai, linh hồn cũng phải từ bỏ không chỉ sự ràng buộc của nó và sự thành tựu của nó qua sự tiếp xúc với bản ngã cá nhân, mà rõ rệt nhất là nó phải từ bỏ sự ràng buộc của nó với các bản ngã cá nhân khác. Nó phải học hỏi để biết và gặp gỡ những người khác chỉ trên cõi của linh hồn. Trong điều này có một bài học khó cho nhiều đệ tử. Họ có thể ít quan tâm đến bản thân họ và có thể đã học được nhiều sự dứt bỏ cá nhân. Họ có thể ít yêu chuộng việc có được sự tiếp xúc với các bản ngã cá nhân thấp kém. Họ đang học để vượt qua tất cả điều đó, và có thể đã vượt qua đến một mức độ lớn, nhưng tình yêu của họ dành cho con cái của họ, gia đình của họ, bạn bè và tri kỷ của họ đối với họ có tầm quan trọng tối thượng, và tình yêu đó cầm tù họ trong các cõi thấp. Họ không dừng lại để nhận ra rằng tình yêu của họ chủ yếu là tình yêu dành cho các phàm ngã, và cho các linh hồn chỉ là thứ yếu. Với khó khăn này, nhiều đệ tử bị suy sụp trong nhiều kiếp, cho đến khi, qua sự đau đớn và khổ não, và việc liên tục mất đi những gì mà họ rất yêu mến, tình yêu của họ đi vào một trạng thái mới hơn, cao cả hơn và đích thực hơn. Họ vượt lên trên tính cá nhân, và một lần nữa tìm thấy – sau khi đã cảm nhận sự mất mát và đau khổ – những người mà bây giờ họ yêu với tư cách là những linh hồn. Bấy giờ, họ nhận ra rằng đã có sự lợi ích chứ không có sự mất mát, và rằng chỉ những gì là ảo tưởng, phù du và không thật mới biến mất. Chân Nhân đã được đạt đến và không bao giờ có thể bị mất một lần nữa.
Secondly, the soul has also to relinquish not only its tie and its gain through contact with the personal self, but it has most definitely to relinquish its tie with other personal selves. It must learn to know and to meet other people only on the plane of the soul. In this lies for many a disciple a hard lesson. They may care little for themselves and may have learnt much personal detachment. Little may they cherish the gain of contact with the lower personal self. They are learning to transcend all that, and may have transcended to a great degree, but their love for their children, their family, their friends and intimates is for them of supreme importance and that love holds them prisoners in the lower worlds. They do not stop to recognise that their love is primarily love for the personalities, and only secondarily for the souls. Upon this rock, many disciples are for lives broken, until the time comes when, through pain and suffering and the constant losing of that which they so much cherish, their love enters into a newer, a higher and a truer phase. They rise above the personal, and find again—after felt loss and suffering—those whom now they love as souls. Then they realise that there has been gain and not loss, and that only that which was illusory, ephemeral and untrue has disappeared. The real Man has been gained and can never be lost again.
Điều này rất thường là vấn đề của những bậc cha mẹ đang trên Con Đường Đệ Tử, và chính qua con cái của họ mà bài học được học, nó có thể giải thoát họ cho điểm đạo. Họ giữ con cái của họ cho chính họ, và điều này, vì trái với định luật thiên nhiên, nên gây ra tai họa. Đó là đỉnh cao của sự ích kỷ. Tuy nhiên, họ đã không biết và thấy đúng đắn, họ sẽ nhận ra rằng để nắm lấy, người ta phải tách ra, và để giữ, người ta phải giải phóng. Đó là định luật.
This is most frequently the problem of parents who are upon the Path of Discipleship, and it is through their children that the lesson is learnt which can release them for initiation. They hold their children to them, and this, being counter to the law of nature, works out disastrously. It is the height of selfishness. And yet, did they but know and see aright, they would realise that to hold, one must detach, and to keep, one must release. Such is the law.
Linh hồn cũng phải học cách từ bỏ các thành quả hoặc các lợi ích của việc phụng sự, và học cách phụng sự mà không bám chấp vào các kết quả, các phương tiện, con người hoặc sự khen ngợi. Tôi sẽ bàn về điều này sau.
The soul has also to learn to relinquish the fruits or gains of service and learn to serve without attachment to results, to means, to persons or to praise. This I will deal with later.
