và bấy giờ sẽ bao hàm cho môn sinh hời hợt những thành tựu đơn giản nhất của Con Đường Dự Bị. Tuy nhiên, sẽ thật tốt nếu chúng ta có thể hiểu sự kiện này một cách rõ ràng, sự trình bày đơn giản này về các yêu cầu và sự thành tựu chúng trong tâm thức của người chí nguyện, thể hiện như là các phản ứng bên ngoài và được che đậy của thể trí của y đối với một số chân lý vũ trụ bí truyền sâu xa. Phát biểu này chứa đựng chính bản chất của tri thức bí truyền. Các thể hiện khá bình thường của sinh hoạt đầy yêu thương và của sự tự hy sinh hằng ngày có tính bản năng đau khổ vì việc quá đổi quen thuộc và tuy vậy − nếu chúng ta chỉ có thể nhận thức nó − thì chúng chỉ ở rìa ngoài của chân lý sâu xa nhất trên thế gian. Chúng là A.B.C. của thuyết bí truyền và qua chúng, và chỉ qua chúng, chúng ta sẽ đi đến các từ ngữ và các câu mà, đến lượt chúng, là chìa khóa quan trọng cho tri thức cao nhất.
and would then connote to the superficial student the simplest achievement of the Probationary Path. It would, however, be well if we could grasp this fact with clarity, that this simple formulation of requirements and their achievement within the aspirant's consciousness, demonstrate as the outer and veiled reactions of his mind to some deeply esoteric cosmic truths. This statement contains the very essence of the esoteric knowledge. The quite ordinary formulations of loving living and of daily instinctive self-sacrifice suffer from being so vitally familiar and yet—if we could only realise it—they are only on the outer fringe of the deepest world truths. They are the A.B.C. of esotericism and through them, and only through them, shall we arrive at the words and sentences which are, in their turn, the essential key to the highest knowledge.
Một ví dụ ngắn gọn sẽ dùng để minh họa điều này, và khi đó chúng ta có thể xem xét một số sự kiện đơn giản ngụ ý rằng người chí nguyện đang bắt đầu hoạt động như một linh hồn và sẵn sàng cho cuộc sống hữu thức trong Thiên giới.
A brief example will serve to illustrate this, and we can then consider some simple facts which indicate that the aspirant is beginning to function as a soul and is ready for conscious life in the kingdom of God.
Vị đệ tử, đang trong việc huấn luyện cho những chứng ngộ cao hơn, được khuyến khích thực hành khả năng phân biện. Bạn đã được thúc giục như thế. Việc giải thích ban đầu và bình thường, và hiệu quả trực tiếp của việc thực hành là để dạy cho đệ tử phân biệt giữa các cặp đối lập. Tuy nhiên, cũng giống như đệ tử, trong việc đào tạo ban đầu của y, phát hiện ra rằng tiến trình phân biện không có gì liên quan với sự lựa chọn giữa cái ác được nhận thức (cái gọi là) và điều tốt được nhận thức, nhưng liên quan đến các cặp đối lập tinh tế hơn, chẳng hạn như những sự im lặng đúng và sai, lời nói phải và quấy, sự hiểu biết đúng đắn và sự lãnh đạm đúng đắn và các đối lập của chúng, cũng vậy, người đang phản ứng với những định luật cao hơn này phát hiện ra rằng sự phân biện được thể hiện lần nữa còn tinh tế hơn và – đối với phần lớn những người chí nguyện trên thế giới ngày nay − vẫn là một mục tiêu vô nghĩa. Loại phân biện này
The disciple in training for these higher realisations is urged to practice the faculty of discrimination. You have been so urged. The initial and normal interpretation and the immediate effect of the practice is to teach the disciple to distinguish between the pairs of opposites. Yet just as the disciple in his early training discovers that the discriminating process has naught to do with the choice between recognised evil (so-called) and recognised good, but concerns the more subtle pairs of opposites such as right and wrong silences, right and wrong speech, right understanding and right indifference and their opposites, so the man who is reacting to these higher laws discovers that the discrimination to be shown is again still more subtle and is—for the bulk of the aspirants in the world today—still a meaningless objective. This type of discrimination
