nhuốm màu hoặc hạn định các bản năng và các uy lực thiêng liêng, nhưng đó không phải là tất cả. Bản thân chúng được xác định và kiểm soát bởi các uy lực này. Phải không bao giờ quên rằng các cung là bảy biểu lộ chủ yếu của tính chất thiêng liêng vì nó hạn chế (và nó phải hạn chế như thế) các mục đích của Thượng Đế. Chính Thượng Đế tuân theo một mô hình được thiết lập cho Ngài theo một tầm nhìn còn xa xăm hơn. Mục đích hoặc ý chí xác định này sẽ bị chi phối bởi tính chất hoặc tâm lý có tính bản năng của Ngài, chính xác theo cùng một cách như là mục đích cuộc sống của một người vừa bị hạn chế vừa bị chi phối bởi thiết bị tâm lý mà y đi vào biểu lộ với nó. Tôi đã nói trước đó rằng chúng ta đang bàn về các vấn đề sâu sắc và khó khăn, và nhiều điều được trình bày có thể nằm ngoài sự hiểu biết cụ thể trước mắt của chúng ta. Tuy nhiên, phát biểu trên tương đối đơn giản nếu được giải thích dưới dạng mục đích và tính chất đời sống riêng của một người.
colour or qualify the divine instincts and potencies, but that is not all. They are themselves determined and controlled by these potencies. It must never be forgotten that the rays are the seven major expressions of the divine quality as it limits (and it does so limit) the purposes of Deity. God Himself hews to a pattern, set for Him in a still more distant vision. This purpose or defined will is conditioned by His instinctual quality or psyche, in just the same way as the life purpose of a human being is both limited and conditioned by the psychological equipment with which he enters into manifestation. I have earlier stated that we were dealing with abstruse and difficult matters, and that much presented might lie beyond our immediate concrete understanding. The above statement is, however, relatively simple, if interpreted in terms of one's own life purpose, and quality.
Một điểm có thể được đề cập ở đây trước khi chúng ta tiến hành việc nghiên cứu của chúng ta về bảy xu hướng tâm lý của Thượng Đế.
One point might here be touched upon before we proceed with our study of the seven psychological tendencies of Deity.
Ở đây chúng ta đã nói về Thượng Đế dưới dạng của Nhân Vật (Person), và do đó, chúng ta đã sử dụng các đại từ, Ngài và của Ngài. Do đó phải suy ra rằng chúng ta đang bàn về một Tính Cách (Personality) kỳ diệu mà chúng ta gọi là Thượng Đế, và do đó có phải chúng ta thuộc về trường phái tư tưởng mà chúng ta gọi là thuyết nhân hình (anthropomorphic) hay không? Giáo lý Phật Giáo không công nhận Thượng Đế hay Nhân Vật (Person). Do đó, liệu điều đó có sai theo quan điểm và cách tiếp cận của chúng ta, hoặc điều đó là đúng? Chỉ có một sự hiểu biết về con người với cương vị là một biểu lộ thiêng liêng trong thời gian và không gian mới có thể tiết lộ bí nhiệm này.
We have spoken here of God in terms of Person, and we have used therefore the pronouns, He and His. Must it therefore be inferred that we are dealing with a stupendous Personality which we call God, and do we therefore belong to that school of thought which we call the anthropomorphic? The Buddhist teaching recognises no God or Person. Is it, therefore, wrong from our point of view and approach, or is it right? Only an understanding of man as a divine expression in time and space can reveal this mystery.
Cả hai trường phái tư tưởng đều đúng và không hề mâu thuẫn nhau. Trong sự tổng hợp của chúng và trong sự pha trộn của chúng, chân lý, như bản chất thực sự của nó, có thể bắt đầu xuất hiện − một cách lờ mờ. Có một Thượng Đế Siêu Việt, Đấng “đã tràn ngập khắp toàn bộ vũ trụ với một mảnh của chính Ngài”, mà Ngài vẫn có thể nói: “Ta vẫn còn (remain)”. Có một Thượng Đế Toàn Hiện mà sự sống của Ngài là cội nguồn của
Both schools of thought are right and in no way contradict each other. In their synthesis and in their blending the truth as it really is can begin—aye, dimly—to appear. There is a God Transcendent Who “having pervaded the whole universe with a fragment of Himself” can still say: “I remain.” There is a God Immanent Whose life is the source of the
