một cách hữu thức phóng chiếu y vào các cõi giới cao. Năng lượng của y đi ra, qua trung gian của thể trí có kiểm soát và có định hướng, vào cõi giới tâm linh cao siêu, và vào lĩnh vực của trực giác. Một hoạt động tương hỗ được thiết lập như thế. Phản ứng này giữa thượng trí và hạ trí được nói một cách biểu tượng trong thuật ngữ về ánh sáng, và “con đường thắp sáng” (một thuật ngữ thường được sử dụng) xuất hiện giữa phàm ngã và Tam Thượng Thể tâm linh, xuyên qua linh hồn thể, cũng như linh hồn tiếp xúc rõ rệt với bộ não qua thể trí. “con đường thắp sáng” này là cây cầu được soi sáng. Nó được xây dựng nhờ việc thiền định; nó được xây dựng nhờ nỗ lực liên tục để được thu hút tới trực giác, qua việc phụng sự và tuân phục Thiên Cơ (vốn bắt đầu được nhận thức ngay khi trực giác và thể trí đồng cảm với nhau) và qua một sự sáp nhập hữu thức vào nhóm phụng sự, và vì các mục đích đồng hóa vào tổng thể. Tất cả những tính chất và hoạt động này dựa trên nền tảng của cá tính tốt đẹp và những phẩm chất được phát triển trên Con Đường Dự Bị.
consciously to project himself into the higher worlds. His energy goes forth, through the medium of the controlled and directed mind, into the world of higher spiritual mind and into the realm of the intuition. A reciprocal activity is thus set up. This response between the higher and lower mind is symbolically spoken of in terms of light, and the “lighted way” (a term frequently employed) comes into being between the personality and the spiritual Triad, via the soul body, just as the soul came into definite contact with the brain via the mind. This “lighted way” is the illumined bridge. It is built through meditation; it is constructed through the constant effort to draw forth the intuition, through subservience and obedience to the Plan (which begins to be recognised as soon as the intuition and the mind are en rapport) and through a conscious incorporation into the group in service and for purposes of assimilation into the whole. All these qualities and activities are based upon the foundation of good character and the qualities developed upon the Probationary Path.
Nỗ lực để được thu hút tới trực giác đòi hỏi sự tham thiền huyền bí có định hướng (chứ không phải có tính khát vọng). Nó đòi hỏi một trí thông minh lão luyện, sao cho đường ranh giới giữa nhận thức trực giác và các hình thức của tâm thông cao có thể được nhìn thấy rõ ràng. Nó đòi hỏi một việc giữ giới luật không ngừng của thể trí, sao cho nó có thể “giữ nó ổn định trong ánh sáng”, và việc phát triển một sự lý giải đúng đắn có văn hóa sao cho kiến thức trực giác đã đạt được bấy giờ có thể bao bọc nó trong các hình tư tưởng đúng đắn.
The effort to draw forth the intuition requires directed occult (but not aspirational) meditation. It requires a trained intelligence, so that the line of demarcation between intuitive realisation and the forms of the higher psychism may be clearly seen. It requires a constant disciplining of the mind, so that it can “hold itself steady in the light”, and the development of a cultured right interpretation so that the intuitive knowledge which has been achieved may then clothe itself in the right thought forms.
Sự phụng sự hay vâng theo Thiên Cơ hàm ý điều gì khác hơn là một nhận thức mơ hồ và không rõ ràng rằng Thượng Đế có một Thiên Cơ và chúng ta được bao gồm trong nó. Nó nhiều hơn là một sự ẩn mình vào trong bóng tối của ý chí Thượng Đế. Nó đòi hỏi một sự phân biệt khôn ngoan giữa:
Subservience or obedience to the Plan involves something else than a vague and misty realisation that God has a Plan and that we are included in it. It is more than a hiding of oneself in the shadow of the will of God. It necessitates a wise differentiation between:
