ý thức trách nhiệm đối với cổ đông, và do nhận thức rằng dù họ có làm điều gì—chiến đấu hay từ chức—tình thế vẫn không thay đổi. Đó là điều quá lớn so với khả năng của một cá nhân. Vì thế họ ở trong tình trạng tương đối bất lực. Họ là những người công bằng và chính trực, khiêm tốn và tử tế, với lối sống giản dị và ý thức giá trị chân thực, nhưng những gì họ có thể làm đều kém hiệu quả.
sense of responsibility to their stockholders and by the realization that, no matter what they do—fight or resign—the situation remains unchanged. It is too big for the individual. They remain, therefore, relatively powerless. They are fair and just, decent and kind, simple in their way of life and with a true sense of values, but there is little of a potent nature that they can do.
Thứ hai, những người có đủ khôn ngoan để thấy được những dấu hiệu của thời thế. Họ hiểu rằng hệ thống tư bản không thể tiếp tục mãi, trước những đòi hỏi ngày càng cao của nhân loại và sự xuất lộ liên tục của các giá trị tinh thần. Vì thế, họ bắt đầu thay đổi phương pháp, mở rộng công cuộc kinh doanh của mình cho mọi người, và đưa ra các qui trình hợp tác với nhân viên. Những thay đổi đó là do tính ích kỷ cố hữu của họ, và họ có những thái độ vừa kể là do bản năng tự bảo tồn. Giữa hai nhóm nói trên là những người không thuộc về nhóm này hay nhóm kia. Họ dễ đón nhận sự tuyên truyền của nhà tư bản ích kỷ, hoặc nhà hoạt động nhân đạo bất vụ lợi.
Second, those who are clever enough to read the signs of the times; they realize that the capitalistic system cannot continue indefinitely in the face of humanity's rising demands and the steady emerging of the spiritual values. They are beginning therefore to change their methods and to universalize their businesses and to institute cooperative procedures with their employees. Their inherent selfishness prompts the change and the instinct of self-preservation determines their attitudes. In between these two groups are those who belong to neither the one nor the other; they are a fruitful field for the propaganda of the selfish capitalist or the unselfish humanitarian.
Ở đây có thể nói thêm rằng những suy nghĩ ích kỷ và động cơ chia rẽ vốn là đặc điểm của hệ thống tư bản thì cũng có trong các thương gia trên qui mô nhỏ và không quan trọng—trong cửa hàng tạp hóa ở góc đường, người thợ ống nước, và chủ cơ sở may mặc bóc lột công nhân và lừa dối khách hàng. Chính tính ích kỷ phổ quát và lòng ham thích quyền lực này là điều chúng ta phải đấu tranh. Tuy nhiên, chiến tranh đã có tác dụng như liều thuốc tẩy. Nó mở mắt mọi người để họ thấy nguyên nhân tiềm ẩn của chiến tranh. Đó là nỗi khốn khổ kinh tế, do một tập đoàn quốc tế gồm những người ích kỷ và tham vọng, đã cùng nhau khai tác cạn kiệt các tài nguyên của hành tinh. Nay đang có cơ hội để thay đổi mọi sự.
It might be well to add here that the selfish thinking and the separative motivation which distinguishes the capitalistic system is also to be found in the small and unimportant business men—in the corner grocery, the plumber and the haberdasher who exploits his employees and deceives his customers. It is the universal spirit of selfishness and the love of power with which we have to contend. The war has, however, acted like a purge. It has opened the eyes of men to the underlying cause of war—economic distress, based on the exploitation of the planet's resources by an international group of selfish and ambitious men. The opportunity to change things is now present.
Giờ đây chúng ta hãy xét đến nhóm đối lập—tức là giới lao động.
Let us now look at the opposing group—Labour.
Một đoàn nhóm đầy quyền lực, đại diện cho hệ thống tư bản, cả ở cấp quốc gia và quốc tế, và một nhóm
A powerful group, representing the capitalistic system, both national and international, and an equally
