hào quang ảnh hưởng của nó, và “với lĩnh vực các mối quan hệ được nuôi dưỡng từ Huyền Viện của Đức Christ”. Ở đây, Tôi đang viện dẫn một trong các Chân Sư, Đấng đã đang nỗ lực để giải thích cho một đệ tử tính đơn giản của cuộc sống mà một Chân Sư biểu lộ.
sphere or aura of influence and “with the field of relationships which are nurtured from the Ashram of the Christ.” I am here quoting one of the Masters Who was endeavouring to explain to a disciple the simplicity of the life which a Master expresses.
KHOA HỌC VỀ ANTAHKARANA
THE SCIENCE OF THE ANTAHKARANA
Khi chúng ta bắt đầu xem xét về “Cuộc sống nhị phân của tiến trình điểm đạo” Tôi muốn bạn chú ý đến cách diễn tả được dùng đến, và đặc biệt là đến ý nghĩa của nó có liên quan tới tiến trình điểm đạo. Như chúng ta sẽ thấy, điều này, không đề cập đến nỗ lực của đệ tử để sống đồng thời cuộc sống của thế giới tâm linh và cuộc sống thực tế của việc phụng sự trên cõi trần, mà hoàn toàn đề cập đến việc chuẩn bị của đệ tử cho việc điểm đạo, và do đó đề cập đến đời sống và các thái độ trí tuệ của đệ tử.
As we enter on the consideration of “The dual life of the initiatory process” I would call your attention to the wording used, and particularly to its significance in reference to the initiatory process. This deals, as we shall see, not with the effort of the disciple to live simultaneously the life of the spiritual world and the practical life of physical plane service, but entirely with the preparation of the disciple for initiation, and therefore with his mental life and attitudes.
Phát biểu này có thể được coi như liên quan trước tiên đến hai khía cạnh chủ yếu của đời sống trí tuệ của đệ tử chứ không liên quan với cuộc sống của mối liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã. Do đó, thật thích hợp để chứng kiến một nhị nguyên đang tồn tại trong tâm thức của vị đệ tử, và cả hai khía cạnh của nó tồn tại bên cạnh nhau:
This statement might be regarded as concerning itself primarily with two major aspects of his mental life and not with the life of relation between soul and personality. It is proper, consequently, to see a duality existing in the consciousness of the disciple, and both of its aspects existing side by side:
1. Đời sống ý thức, mà trong đó y biểu lộ thái độ của linh hồn, ý thức của linh hồn và tâm thức linh hồn, qua trung gian của phàm ngã trên cõi trần; y học cách ghi nhận và biểu lộ điều này một cách hữu thức.
1. The life of awareness in which he expresses the soul attitude, soul awareness and soul consciousness, through the medium of the personality upon the physical plane; this he learns to register and express consciously.
2. Sự sống vô cùng riêng tư và hoàn toàn thiên về nội tâm, trong đó, y – tức phàm ngã được linh hồn thấm nhuần – được định hướng vào cõi trí, đưa tới mối liên hệ ngày càng tăng giữa:
2. The intensely private and purely subjective life in which he—the soul-infused personality—oriented upon the mental plane, brings into increasing rapport:
a. Hạ trí cụ thể với thượng trí trừu tượng của y.
a. His lower concrete mind and the higher abstract mind.
b. Bản thân y và Chân Sư của nhóm cung của y, nhờ đó phát triển ý thức về Huyền Viện.
b. Himself and the Master of his ray group, thus developing the ashramic consciousness.
c. Bản thân y và Thánh Đoàn nói chung, ngày càng trở nên ý thức về sự tổng hợp tinh thần đang nằm dưới các Huyền Viện thống nhất. Nhờ thế y tiếp cận một cách hữu thức và vững vàng với Trung Tâm rực rỡ của Huyền Viện thái dương này, là chính Đức Christ, Đấng Điểm Đạo Thứ Nhất.
c. Himself and the Hierarchy as a whole, becoming increasingly aware of the spiritual synthesis underlying the united Ashrams. He thus consciously and steadily approaches the radiant Centre of this solar Ashram, the Christ Himself, the first Initiator.
