Sự tiến bộ và cuộc điểm đạo đã đem lại cho chúng ta phần lớn liên quan đến việc kiến tạo tính chất (character- building) và việc phụng sự nhân loại. Sự tiến tới này cũng chắc chắn là tạo ra xung khắc và phàm ngã đấu tranh với linh hồn. Nhưng song song với sự xung khắc được biết rõ này, một cuộc chiến khác diễn ra giữa các chất dĩ thái đang tạo ra thể dĩ thái của đệ tử với các dĩ thái cao đang trút xuống. Con người không hay biết về điều này lắm đâu, nhưng cuộc chiến là cuộc chiến rất có thực, tác động trước tiên tới sức khỏe của xác thân, và rơi vào năm giai đoạn tự nhiên mà chúng ta gọi là các cuộc điểm đạo. Khoa biểu tượng của Thần Trượng Điểm Đạo dạy chúng ta rằng (trong tiến trình điểm đạo), Thần Trượng này, do Đức Christ hoặc do Đức Chưởng Quản Thế Gian điều khiển, tùy trường hợp có thể xảy ra, được vận dụng để làm thăng bằng các dĩ thái cao bên trong phàm ngã bằng cách đưa vào (access) năng lượng được đặt sát, cách đó giúp cho điểm đạo đồ giữ lại những gì đến từ bên trên, để cho “trên sao dưới vậy”.
Progress and initiation have been presented to us mainly in terms of character-building and of service to humanity. This approach most surely also produces conflict and the personality fights the soul. But paralleling this well known conflict, another battle goes on between the ethers composing the disciple's etheric body and the downpouring higher ethers. Of this a man is not so conscious, but the battle is a very real one, affecting primarily the health of the physical body, and falls into five natural stages which we call initiations. The symbolism of the Rod of Initiation teaches us that (during the initiatory process) this Rod, directed by the Christ or by the Lord of the World, as the case may be, is used to stabilise the higher ethers within the personality by an access of applied energy which enables the initiate to retain that which is from above, in order that “as above, so below.”
Có ba quan điểm theo đó thể dĩ thái cần được xem xét:
There are three angles from which the etheric body must be considered:
1. Với cương vị là bộ máy, tự hiển lộ qua các nadis, tức là loại hệ thống tế vi của các tuyến lực có liên hệ mà, đến lượt chúng, các tuyến lực này tự hiển lộ qua hệ thần kinh hồng trần.
1. As the mechanism which externalises itself through the nadis, or that fine system of related lines of force which, in their turn, externalise themselves through the physical system of nerves.
2. Với cương vị một tác nhân truyền chuyển (a transmitter) của nhiều loại năng lượng khác nhau đến từ nhiều nguồn khác nhau; các năng lượng này chạy xuyên qua hoặc chạy dọc theo (cả hai thuật ngữ này đều xác thực) các tuyến lực đang nằm dưới các nadis. Cách đây ít lâu tôi dùng thuật ngữ các ống“ (“tubes”), như thế hàm ý một mạng lưới gồm các ống mà các năng lượng được truyền có thể tuôn đổ qua đó. Ở đây bạn có một trường hợp mà các từ ngữ hoàn toàn không thích hợp và ngay cả còn gây lầm lạc nữa.
2. As a transmitter of many different types of energy, coming from many different sources; these energies run through or along (both words are equally true) the lines of force which underlie the nadis. A while ago I used the word “tubes,” thus inferring a network of tubes through which the transmitted energies can pour; here you have a case where words are wholly inadequate and even misleading.
3. Các năng lượng này—tùy theo cội nguồn, tính chất và mục tiêu của chúng—tạo ra bảy trung tâm lực chính, chúng chi phối nhiều trung tâm phụ nhỏ hơn,
3. These energies—according to their source, quality and purpose—create the seven major centres which condition the many smaller subsidiary centres
