Ở trình độ này, y quen thuộc với môi trường sống mới đến mức không những y biết đến hình thể mà còn thấu hiểu được Thực tại ở nội tâm, vốn là nguyên nhân khiến cho các hình thể này hiện hữu.
When this is so the new environment becomes familiar to him so that he knows not only the form but the subjective Reality which produces or causes the existence of the forms.
Sau đó, y tiếp tục phát triển phẩm tính quan trọng kế tiếp là hạnh vô dục hay là không ham muốn. một người khả dĩ có thể phân biệt được điều thật và lẽ giả, giữa vật chất và Sự Sống làm linh hoạt nó, vậy mà vẫn còn muốn “đi ra ngoài” hướng về cuộc sống hình thể. Vì thế, cũng phải khắc phục ý muốn này trước khi y có thể được hoàn toàn giải thoát, khai phóng hay tự do. một thiên cổ luận trong văn khố của Đại đoàn các Chân sư, có ghi những dòng sau đây:
Then he passes on to the cultivation of the next great quality which is dispassion or desirelessness. A man may be able to distinguish between the real and the true, between the substance and the Life which animates it and yet desire or “go out” towards the form existence. This too must be overcome before perfect liberation, emancipation or freedom is attained. In one of the old commentaries in the archives of the Lodge of Masters, the following words are found:
“Chỉ biết phương cách hay cảm thấy mãnh lực giúp sự sống thoát ra khỏi các hình thể ảo hóa, thì vẫn chưa đủ. Phải có phút giây trọng đại khi người đệ tử dùng Quyền lực từ để dứt khoát đoạn lìa sợi sutratma ảo tưởng đã buộc chặt y vào hình thể. Giống như con nhện thu hồi sợi tơ mà nó đã dùng để phiêu lưu vào những vùng xa lạ, người đệ tử cũng tách mình ra khỏi tất cả các hình thức sống trong tam giới, mà từ trước đến giờ đã quyến rũ y.”
“It suffices not to know the way nor to feel the force which serveth to extract the life from out of the forms of maya. A moment of great portent must take place wherein the chela breaketh by one act and through a word of Power the illusory sutratma which bindeth him to form. Like the spider which gathereth up the thread again within himself whereby he ventured forth into unknown realms, so the chela withdraweth himself from all the forms in the three realms of being which have hitherto enticed.”
Đoạn văn trên đây đáng cho chúng ta xem xét kỹ và có thể được liên kết với ý tưởng bao hàm trong câu phát biểu huyền môn: “Trước khi hành giả có thể dấn bước trên Đường Đạo, y phải tự trở thành con Đường Đạo.”
The above merits close consideration and can be linked to the thought embodied in the occult phrase: “Before a man can tread the Path, he must become that Path himself.”
27. Sự hiểu biết (hay giác ngộ) đạt được gồm bảy phần, và tăng tiến dần.
27. The knowledge (or illumination) achieved is sevenfold, and is attained progressively.
Kinh sách Ấn giáo cho biết rằng ý thức của thể trí gồm bảy trạng thái.
The Hindu teaching holds that the states of mind-consciousness are seven in number. The
