Chương 17
CÁC LOẠI ĐIỂM ĐẠO KHÁC NHAU
Chương 17
CHAPTER XVII
CÁC LOẠI ĐIỂM ĐẠO KHÁC NHAU
DIVERSITIES OF INITIATIONS
Các cuộc Điểm đạo Chính yếu và Thứ yếu.
Major and Minor Initiations.
1. Chúng ta phải lưu ý các thuật ngữ một cách cẩn thận. Khi thuật ngữ điểm đạo “chính yếu” được sử dụng, nó không phải lúc nào cũng có nghĩa giống nhau trong các ngữ cảnh khác nhau.
1. We have to note the terminology carefully. When the term “major” initiation is used it does not always mean the same thing in various contexts.
2. Đôi khi, chỉ những cuộc điểm đạo bắt đầu bằng cuộc điểm đạo thứ ba mới được coi là “chính yếu”, nhưng vào những thời điểm khác, tất cả những cuộc điểm đạo trên cõi trí bắt đầu bằng cuộc Điểm đạo Giáng Sinh được coi là “chính yếu”. Để xác định chính xác ý nghĩa của nó, bối cảnh phải được xem xét cẩn thận.
2. Sometimes, only initiations beginning with the third are considered “major”, yet at other times, all the manasic initiations beginning with the Initiation of the Birth are considered “major”. To determine exactly what is meant, the context must be examined carefully.
Khi bàn về các cuộc điểm đạo khác nhau, người môn sinh nên nhớ rằng phút giây trọng đại khi con người ra khỏi giới động vật để nhập vào nhân loại, mà nhiều sách huyền bí gọi là “lúc biệt lập ngã tính,” chính là một trong các cuộc điểm đạo vĩ đại nhất.
In dealing with this question of the diversities of initiations it may be of value to the student to remember that the great moment in which a man passed out of the animal kingdom into the human, which is called in many occult textbooks the “moment of individualisation,” was in itself one of the greatest of all initiations.
3. Chúng ta có thể nói rằng mọi việc chuyển từ giới tự nhiên này sang giới tự nhiên khác là một thời khắc điểm đạo vĩ đại.
3. We can say that every transition from one kingdom of nature to another is a moment of great initiation.
4. Những kiểu điểm đạo mà chúng ta quen thuộc nhất biểu thị sự chuyển đổi của con người từ giới thứ tư (giới nhân loại) sang giới thứ năm hay Giới linh hồn.
4. The kinds of initiations within which we are most familiar signify the transition of the human being from the fourth kingdom (the human kingdom) to the fifth or Kingdom of Souls.
5. Việc biệt lập ngã tính của người thú, do đó tạo ra giới tự nhiên thứ tư trên hành tinh của chúng ta, theo quan điểm của Hành tinh Thượng đế, cũng là một cuộc điểm đạo quan trọng.
5. The individualization of animal man, thus producing the fourth kingdom of nature upon our planet was, from the perspective of the Planetary Logos, also a significant initiation.
6. Bất kỳ bước nhập vào giai đoạn mới của trải nghiệm và hoạt động đều là một cuộc điểm đạo.
6. Any entrance into a new phase of experience and activity is an initiation.
Biệt lập ngã tính là khi cái ngã có sự thấu hiểu hữu thức về mối quan hệ của nó với tất cả những gì thuộc về phi-ngã, và trong đại tiến trình điểm đạo này, cũng như trong mọi tiến trình về sau, sự thức tỉnh của tâm thức xảy ra sau một thời kỳ phát triển dần dần;
Individualisation is the conscious apprehension by the self of its relation to all that constitutes the not-self, and in this great initiatory process, as in all the later ones, the awakening of consciousness is preceded by a period of gradual development;
7. Đây là một định nghĩa tuyệt vời về biệt lập ngã tính. Để “sự thấu hiểu hữu thức” này xảy ra, bản thân phải 'nhìn thấy' hoặc ghi nhận trong lĩnh vực tâm thức hai thứ — “phi ngã” và chính nó.
7. Here is an excellent definition of individualization. In order for this “conscious apprehension” to occur, the self must ‘see’ or register within the field of consciousness two things—the “not-self” and itself.
sự thức tỉnh xảy ra tức khắc vào lúc tự nhận thức lần đầu tiên, và luôn luôn sau đó là một thời kỳ tiến hoá dần dần khác.
the awakening is instantaneous at the moment of self-realisation for the first time, and is always succeeded by another period of gradual evolution.
8. Chân sư DK nói với chúng ta rằng khoảnh khắc tự nhận thức là một trải nghiệm tức thời, tiếp theo sau là một thời gian dài trong đó tâm thức bên trong nhận thức mới này được phát triển từ từ.
8. DK is telling us that the moment of self-realization is an instantaneous experience following by a long period in which consciousness within this new realization is slowly developed.
9. Biệt lập ngã tính, do đó, đến như một 'cú sốc' đối với tâm thức. Điều tương tự cũng có thể nói về sự điểm đạo. Người ta đột nhiên nhìn thấy những gì người ta chưa thấy trước đây.
9. Individualization, therefore, comes as a ‘shock’ to consciousness. The same can be said of initiation. One suddenly sees what one has not seen before.
10. Khoảng thời gian chuẩn bị (có ý thức hoặc vô thức) dẫn đến sự tiết lộ đột ngột này thường kéo dài (mặc dù phải phụ thuộc vào cuộc điểm đạo đang được thảo luận. Khoảng thời gian từ khi biệt lập ngã tính đến lần điểm đạo đầu tiên là vô cùng dài, mất hàng triệu năm. Khoảng thời gian giữa cuộc điểm đạo đầu tiên và lần thứ hai có lẽ sẽ mất hàng nghìn năm.
10. The period of preparation (conscious or unconscious) leading up to this sudden revelation is usually lengthy (though must depends upon the initiation under discussion. The period between individualization and the first initiation is extremely lengthy, taking millions of years. The period between the first and second initiation will take probably thousands of years.
11. Khoảng thời gian giữa lần thứ hai và lần thứ ba, và giữa lần thứ ba và lần thứ tư, chúng ta được cho biết, có thể được hoàn thành ngay cả trong thời gian của một kiếp sống.
11. The period between the second and third, and third and fourth may, we are told, be accomplished even in one life-time.
12. Tuy nhiên, tất cả các giai đoạn chuẩn bị đều 'dài' khi so sánh với 'thời điểm' có nhận thức mới.
12. Yet all preparatory periods are ‘long’ when compared to the ‘moment’ of new realization.
Đến lượt thời kỳ tiến hoá dần dần này, về sau lại đưa đến một cuộc khủng hoảng được gọi là Điểm Đạo. Trường hợp đầu là cuộc điểm đạo vào sự sống có ngã thức, còn trường hợp sau là cuộc điểm đạo vào sự sống tinh thần.
This period of gradual evolution, in its turn leads up to a later crisis which is called Initiation. In the one case, we have initiation into self-conscious existence, in the other, initiation into spiritual existence.
13. Biệt lập ngã tính là cuộc điểm đạo vào sự sống có ngã thức. Điểm đạo (như chúng ta thường sử dụng thuật ngữ này) là sự xâm nhập vào sự sống tinh thần hoặc sự sống có ý thức về mặt tinh thần.
13. Individualization is initiation into self-conscious existence. Initiation (as we usually use the term) is entry into spiritual existence or spiritually-conscious existence.
Những nhận thức này, hay các sự mở rộng tâm thức được hiểu rõ, đều theo định luật thiên nhiên,
These realisations, or apprehended expansions of consciousness, are under natural law,
14. Đôi khi tâm thức có thể mở rộng mà không cần ghi nhận bởi tâm thức (hoặc cái tôi bên trong tâm thức) rằng đã có sự mở rộng.
14. Sometimes it is possible for consciousness to expand without registration by the consciousness (or the self within the consciousness) that there has been an expansion.
15. Tăng trưởng là trật tự tự nhiên của mọi thứ.
15. Growth is the natural order of things.
và xảy đến đúng lúc với mọi linh hồn, không ngoại trừ ai cả.
and come in due course of time to every soul without exception.
16. Câu hỏi đặt ra là liệu khoảng thời gian tự nhiên này có thể được làm nhanh hơn không. Chúng ta đã được biết rằng việc mở rộng tâm thức sẽ đến, nhưng nó có thể được đẩy nhanh hơn bằng cách tuân thủ một cách thông minh một chương trình huấn luyện tạo điều kiện cho việc mở mang này.
16. The question is whether this natural time period can be hastened. Expansion of consciousness will come, we are told, but it can be hastened by intelligent adherence to a program of training which facilitates this opening.
Ở mức độ nhỏ hơn, chúng xảy ra hằng ngày cho mỗi người, khi sự hiểu biết trí tuệ của y về cuộc sống và kinh nghiệm từ từ tăng trưởng, nhưng chúng chỉ trở nên những cuộc điểm đạo vào minh triết (khác với các sự mở rộng kiến thức) khi kiến thức có được là do: —
In a lesser degree they are undergone daily by every human being, as his mental grip of life and experience gradually grows, but they only become initiations into the wisdom (as differentiated from expansions of knowledge) when the knowledge gained is: —
17. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng mở rộng tâm thức là một quá trình tự nhiên, thậm chí là một quá trình hàng ngày hoặc có thể hàng giờ.
17. DK is telling us that expansion of consciousness is a natural process, even a daily or perhaps hourly process.
18. Các cuộc điểm đạo là sự mở rộng vĩ đại của tâm thức để phân biệt với sự mở rộng tâm thức nhỏ hơn theo một số cách.
18. Initiations are great expansion of consciousness to be differentiated from the lesser expansions of consciousness in a number of ways.
19. Chân sư DK bắt đầu bằng cách gọi những loại mở rộng đó là điểm đạo, “các cuộc điểm đạo vào minh triết”.
19. DK begins by calling those types of expansions which are initiations, “initiations into the wisdom”.
20. Kiến thức luôn đạt được trong quá trình mở rộng tâm thức. Nếu sự mở rộng là một cuộc điểm đạo vào minh triết, thì kiến thức thu được sẽ có những đặc điểm sau đây.
20. Knowledge is always gained in an expansion of consciousness. If an expansion is an initiation into the wisdom, the knowledge gained will have the following characteristics.
[Trang 177]
[Page 177]
a. Được hữu ý tìm kiếm.
a. Consciously sought for.
21. Điểm đạo thực sự không phải ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một cuộc tìm kiếm lâu dài, thận trọng, có chủ ý, trong hầu hết các trường hợp, bao gồm một số kiếp sống.
21. Real initiation is not accidental. It is the result of a long, deliberate, willful search covering, in most cases, a number of lives.
b. Được tự thân áp dụng vào đời sống một cách hy sinh.
b. Self-sacrificingly applied to life.
22. Thái độ của điểm đạo đồ chân chính là hi sinh bản thân. Thiếu sự hi sinh của bản thể thấp hơn thì không có cuộc điểm đạo vào minh triết.
22. The attitude of the true initiate is self-sacrificial. Without the sacrifice of the lower, elemental self, there is no initiation into the wisdom.
c. Được tự nguyện sử dụng trong việc phụng sự tha nhân.
c. Willingly used in service for others.
23. Điểm này giống như điểm trên. Bản thân được hy sinh để áp dụng kiến thức thu được cho mục đích phụng sự những người khác. Điều này được thực hiện một cách tự nguyện.
23. This point is like the one foregoing. The self is sacrificed in order to apply the knowledge gained for the purpose of serving others. This is done willingly.
d. Được sử dụng một cách thông minh trên phương diện tiến hoá.
d. Intelligently utilised on the side of evolution.
24. Tiến hóa không chỉ là một quá trình vi mô mà còn áp dụng cho sự phát triển của hành tinh và các giới khác nhau của nó. Điểm đạo đồ chân chính tiến vào minh triết sử dụng kiến thức thu được thông qua tâm thức mở rộng của mình bằng cách mở rộng hơn nữa các mục tiêu lớn hơn của bối cảnh hành tinh mà y đang đắm chìm trong đó. Cuối cùng, khi đủ kiến thức và đủ sức mạnh, y có thể hỗ trợ toàn bộ hành tinh với kiến thức thu được.
24. Evolution is not only a microcosmic process but applies to the development of the planet and its various kingdoms. The true initiate into the wisdom utilizes the knowledge gained through his expanding consciousness by furthering the greater ends of the planetary context in which he is immersed. Eventually, when he is knowledgeable and powerful enough, he is capable of assisting the entire planet with the knowledge gained.
25. Tìm kiếm một cách thông minh để thúc đẩy phúc lợi của toàn thể là một phần của minh triết. Khi một người sử dụng kiến thức thu được cho lợi ích của cái ngã thấp hơn, thì người đó không phải là điểm đạo đồ tiến vào minh triết. Chúng ta nên lưu ý, có những điểm đạo đồ theo tà đạo/lề trái.
25. It is the part of wisdom to seek intelligently to advance the welfare of the whole. When one uses knowledge gained for the welfare of the lower self alone, one is not an initiate into the wisdom. There are, we should note, initiates of the left hand path.
Chỉ những linh hồn có một mức độ kinh nghiệm và phát triển nhất định mới thực hiện được cả bốn điều này một cách kiên trì, đều đặn, để chuyển hoá kiến thức thành minh triết, và kinh nghiệm thành phẩm tính.
Only souls of a certain amount of experience and development do all these four things consistently and steadily, and thus transmute knowledge into wisdom, and experience into quality.
26. Điểm đạo đồ chân chính được kỳ vọng sẽ sử dụng kiến thức của mình một cách tích cực, cả kiên trì và đều đặn.
26. The true initiate is expected to use his knowledge positively, both consistently and steadily.
27. Y có hai nhiệm vụ chuyển hoá:
27. He has two transmutative tasks:
a. Sự chuyển hoá kiến thức thành minh triết. Điều này được thực hiện ở một mức độ lớn dưới ảnh hưởng của hành tinh Venus có liên kết chặt chẽ với Thái dương Thiên thần của y.
a. The transmutation of knowledge into wisdom. This is accomplished to a great extent under the influence of the planet Venus which is so closely associated with his Solar Angel.
b. Sự chuyển hoá trải nghiệm thành phẩm tính. Đây là quá trình mà kinh nghiệm được 'tinh túy hóa' để nó có thể được 'nâng cao' thành phẩm tính trong thể nguyên nhân. Một lần nữa sao Kim lại tham gia, lần này là trong bản chất luyện kim của nó.
b. The transmutation of experience into quality. This is the process by which experience is ‘quintessentialized’ so that it can be ‘raised’ as quality into the causal body. Again Venus is involved, this time in its alchemical nature.
Người thường thì chuyển hoá vô minh thành hiểu biết, và kinh nghiệm thành năng khiếu.
The ordinary average man transmutes ignorance into knowledge, and experience into faculty.
28. Đây là một sự biến đổi, theo đó kinh nghiệm có ý thức trong tam giới được nâng lên vào các nguyên tử thường tồn do khả năng thực hiện trong tam giới được nâng cao.
28. This is a transmutation whereby conscious experience in the three worlds is elevated to the permanent atoms as enhanced ability to perform in the three worlds.
29. Nhưng một cá nhân bình thường không có ý định chuyển hoá kiến thức thành minh triết — theo một cách nào đó, là kiến thức có thể áp dụng rộng rãi mọi lúc, mọi nơi. Nó cũng là sự hiểu biết mở rộng về những kiến thức dự định tạo ra trong thời gian dài. Do đó, minh triết có thể được coi là vận mệnh của tri thức.
29. But the ordinary individual does not intend to transmute knowledge into wisdom—which, in a way, is knowledge broadly applicable at all times, in all places. It is also a broadened understanding of what knowledge is intended to produce in the long run. Wisdom can be considered, therefore, the destiny of knowledge.
Thật là hữu ích khi tất cả chúng ta suy gẫm về sự khác nhau giữa tính chất cố hữu và năng khiếu bẩm sinh; một đằng là chính bản chất bồ đề hay minh triết, và đằng kia có bản chất của manas, hay trí tuệ. Sự kết hợp cả hai, qua nỗ lực hữu thức của một người, dẫn đến một cuộc điểm đạo chính yếu.
It would be helpful if all of us pondered upon the difference between inherent quality and innate faculty; one is the very nature of buddhi, or wisdom, and the other of manas, or mind. The union of these two, through a man's conscious effort, results in a major initiation.
30. Phẩm tính là kết quả từ sự khái quát của các năng khiếu. Một người đã phát triển nhiều khả năng trí tuệ, về lâu dài, trở nên đủ tiêu chuẩn/tư cách.
30. Quality results from the generalization of faculty. One who has developed many mental faculties becomes, at length, qualified.
31. Từ phẩm tính đã được thiết lập, các năng khiếu cần thiết trong mọi tình huống có thể được tạo ra.
31. From established quality, faculties needed in any situation can be generated.
32. Chân sư DK cho chúng ta một điểm quan trọng: sự kết hợp của phẩm tính vốn có và các năng khiếu bẩm sinh, thông qua nỗ lực có ý thức, kết quả là một cuộc điểm đạo chính.
32. DK gives us an important point: the union of inherent quality and innate faculty, through conscious effort, results in a major initiation.
33. Phẩm tính cố hữu cung cấp một 'bầu không khí hiểu biết' trong đó các năng khiếu bẩm sinh có thể được áp dụng một cách đúng đắn. Có một điều như là có thể làm gì đó nhưng lại không có sự hiểu biết và kỹ năng hành động để làm một cách khôn ngoan và tôn trọng bối cảnh mà nó được thực hiện.
33. Inherent quality provides an ‘atmosphere of understanding’ in which innate faculty can be rightly applied. There is such a thing as being able to do something and yet not having the understanding and skill-in-action to do that thing wisely and with respect for the context in which it is performed.
34. Chúng ta sẽ làm như Chân sư DK gợi ý và suy ngẫm về sự khác biệt.
34. We will do as DK suggests and ponder on the distinction.
Các kết quả này [sự thành tựu của một cuộc điểm đạo chính yếu] được mang lại theo hai cách: – Thứ nhất, bằng sự tự nỗ lực của chính hành giả, vào đúng lúc sẽ đưa y tìm thấy trung tâm tâm thức của chính y, được sự dẫn dắt hoàn toàn của vị chủ tể ở nội tâm, là Chân nhân, và nhờ nỗ lực mạnh mẽ và cố gắng khó nhọc, làm sáng tỏ bí nhiệm của vũ trụ được ẩn giấu trong chất liệu vật chất được truyền năng lượng bởi Fohat.
These results [the accomplishment of a major initiation] are brought about in two ways:—First, by a man's own unaided effort, which leads him in due course of time to find his own centre of consciousness, to be guided and led by the inner ruler or Ego entirely, and to unravel, through strenuous effort and painful endeavour, the mystery of the universe, which is concealed in material substance energised by Fohat.
35. Quá trình đầu tiên trong số các quá trình dẫn đến việc điểm đạo được khởi tạo bởi chính người chí nguyện/ứng viên và được theo đuổi dưới năng lực của chính y:
35. The first of the processes leading to initiation is originated by the aspirant/candidate himself, and is pursued under his own power:
36. Chúng ta hãy lập bảng công việc ban đầu của người chí nguyện hướng tới việc điểm đạo:
36. Let us tabulate the initial work of the aspirant to initiation:
a. Người chí nguyện làm việc không cần sự trợ giúp
a. The aspirant works unaided
b. Thông qua nỗ lực của mình, y tìm thấy trung tâm tâm thức của chính mình
b. Through his efforts he finds his own center of consciousness
c. Y học cách hoàn toàn được hướng dẫn bởi vị chủ tể bên trong hay Chân ngã của mình
c. He learns to be guided by his inner ruler or Ego entirely
d. Một mình không người giúp đỡ và thông qua nỗ lực vất vả, y bắt đầu làm sáng tỏ bí ẩn của vũ trụ — khía cạnh bí ẩn bị che giấu trong vật chất được cung cấp năng lượng bởi Fohat
d. Alone and unaided and through strenuous endeavor he begins to unravel the mystery of the universe—that aspect of the mystery which is concealed in material substance energised by Fohat
– Thứ hai, bằng những nỗ lực của hành giả, được bổ trợ bởi sự cộng tác yêu thương và sáng suốt của các bậc Thức giả (Knowers) của nhân loại, là các Chân sư Minh triết. Trong trường hợp này tiến trình sẽ nhanh hơn, vì, nếu muốn, hành giả sẽ được giáo huấn, và do đó, nếu phần y đã có được những điều kiện đúng đắn, thì y sẽ được phép sử dụng kiến thức và sự giúp đỡ của các Đấng đã thành đạt.
Secondly, by a man's efforts, supplemented by the intelligent loving co-operation of the Knowers of the race, the Masters of the Wisdom. In this case the process is quicker, for a man comes under instruction—should he so desire—and subsequently, when he has on his part provided the right conditions, there is placed at his disposal the knowledge and the help of Those Who have achieved.
37. Người chí nguyện/ứng viên sẽ thấy nhiệm vụ của mình được tạo điều kiện thuận lợi bằng việc các Chân sư Minh triết trợ giúp thêm nếu y cung cấp các điều kiện mà theo đó sự hỗ trợ của các Ngài có thể được ban cho.
37. The aspirant/candidate will find his task facilitated by the supplementation of the Masters of the wisdom if he provides the conditions under which Their support can be given.
Để sử dụng được sự trợ giúp này, y phải làm việc với vật chất của cơ thể chính mình, kiến tạo loại vật chất đúng đắn thành hình thể có trật tự, vì thế phải học cách phân biện khi chọn lựa vật chất, và phải hiểu các định luật rung động và kiến tạo.
In order to avail himself of this help he has to work with the material of his own body, building right material into an ordered form, and has therefore to learn discrimination in the choice of matter, and to understand the laws of vibration and of construction.
38. Phần công việc của người chí nguyện này có liên quan đến các dấu hiệu hành thổ trong chiêm tinh học và đặc biệt là sức mạnh phân biện của Xử Nữ. Năng lực của Vulcan (một hành tinh 'có tính kiến tạo bền bỉ') là cần thiết, và cũng cần năng lực của cung bảy có tính xây dựng và có trật tự.
38. This part of the aspirant’s work is related to the earth signs in astrology and especially to the discriminative power of Virgo. The capacities of Vulcan (a planet of ‘enduring constructiveness’) are needed and also those of the constructive and orderly seventh ray.
39. Chúng ta hãy bắt đầu liệt kê nhiệm vụ của người chí nguyện khi y bắt đầu phù hợp với bản thân để nhận được sự trợ giúp và hỗ trợ có thể được cung cấp bởi Thánh đoàn Ánh sáng:
39. Let us begin to tabulate the aspirant’s task as he begins to fit himself for the kind of aid and support which can be offered by the Hierarchy of Light:
a. Người chí nguyện phải làm việc với vật chất của cơ thể mình. Người chí nguyện phải đối mặt với vật chất/chất liệu của bản chất mặt trăng của chính mình. Ban đầu, nó sẽ ở trong tình trạng không tinh khiết và không phù hợp; điều kiện đó phải được cải thiện.
a. The aspirant must work with the material of his own body. The aspirant is faced with the material/substance of his own lunar nature. Initially, it will be in an impure and inadequate condition; that condition must be improved.
b. Y phải xây dựng vật liệu phù hợp thành một hình tướng có trật tự. Nguyên liệu phù hợp phải được cung cấp thông qua quá trình loại bỏ và chọn lọc.
b. He must build right material into an ordered form. The right material must be provided through the process of elimination and selectivity.
c. Theo một cách nào đó, y phải học những gì để ăn, những gì để thở, nói chung, những gì để 'hấp thụ', và cũng như những gì để thải ra. Đây là sự phân biện trong việc lựa chọn vật chất.
c. In a way, he must learn what to eat, what to breath, what, in general to ‘take in’, and also what to throw out. This is discrimination in the choice of matter.
d. Y phải hiểu quy luật rung động và chỉnh hợp cuộc sống của mình với những rung động cao hơn chứ không phải thấp hơn.
d. He must understand the laws of vibration and align his life with higher rather than lower vibrations.
e. Y cũng phải hiểu các quy luật xây dựng liên quan đến khả năng ổn định các khuôn mẫu năng lượng và hoạt động nhịp nhàng theo chu kỳ.
e. He must also understand the laws of construction which will involved the ability to stabilize patterns of energy and to work rhythmically with cycles.
Điều này bao gồm sự nắm vững phần nào những định luật quản trị [178] các trạng thái Brahma và Vishnu:
This entails the mastering, in some measure, of the laws that govern the [Page 178] Brahma and Vishnu aspects:
40. Người chí nguyện đang làm việc với các trạng thái Vishnu trong trường Brahma.
40. The aspirant is working with the Vishnu aspects within the field of Brahma.
nó có nghĩa là khả năng rung động chính xác ở cấp nguyên tử, và phát triển tính chất thu hút, vốn là cơ sở của việc kiến tạo, hay trạng thái Vishnu.
it means a faculty of vibrating with atomic accuracy, and the development of the quality of attractiveness, which is the basis of the building, or Vishnu aspect.
41. Dưới đây là một số yêu cầu liên quan đến trạng thái Vishnu:
41. Here are some requirements related to the Vishnu aspect:
a. Để rung động với độ chính xác nguyên tử. Định luật Rung động hệ thống có liên quan đến thành tựu này cũng như năng lượng của hành tinh Vulcan, được kết hợp trực tiếp với yếu tố rung động. Nếu có thể rung động như vậy thì có nghĩa là y sẽ có khả năng hài hòa với các cấu trúc năng lượng bên trong mà số phận của y được đúc khuôn.
a. To vibrate with atomic accuracy. The systemic Law of Vibration is involved in this achievement as is the energy of the planet Vulcan, directly associated with the factor of vibration. If he can so vibrate it will mean the capacity to harmonize with the energy structures within which his lot is cast.
b. Y yêu cầu “tính chất thu hút”. Đây là phẩm tính linh hồn liên quan đến cung hai có tính kiến tạo. Trên cơ sở từ tính hấp dẫn, y có thể xây dựng — hệ thống của y, các nhóm mà y tham gia cũng như cộng đồng và quốc gia lớn hơn. Cuối cùng, y trở thành một nhân tố tích cực trong việc xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp hơn trong nhân loại.
b. He requires the “quality of attractiveness”. This is a soul quality related to the constructive second ray. On the basis of attractive magnetism he can build—his system, the groups in which he participates and the larger community and nation. He eventually becomes a constructive agent in the building of better relations within the human race.
42. Chúng ta hãy tự nhắc nhở bản thân rằng khi thảo luận về những gì người chí nguyện phải làm để đạt được điểm đạo, chúng ta đang thảo luận về sự kết hợp của “phẩm tính vốn có” liên quan đến khía cạnh Vishnu và cung hai, và “năng lực bẩm sinh” liên quan đến khía cạnh Brahma và cung ba.
42. Let us remind ourselves that in discussing what the aspirant must do to achieve initiation we are discussing the union of “inherent quality” related to the Vishnu aspect and to the second ray, and “innate faculty” related to Brahma aspect and the third ray.
Y cũng phải trang bị thể trí của mình để nó có thể là một tác nhân giải thích và là một tác nhân truyền đạt, chứ không phải là một yếu tố gây trở ngại như hiện nay.
He has to equip, also, his mental body so that it may be an explainer and transmitter, and not a hindering factor as now.
43. Chân sư DK đánh giá vai trò của thể trí đối với cuộc sống của một cá nhân trung bình. Đó là yếu tố cản trở chứ không phải tác nhân mang ánh sáng, giải thích và truyền đạt minh triết.
43. DK assesses the role of the mental body in the life of the average individual. It is a hindering factor and not light-bearing factor, explaining and transmitting the wisdom.
44. Cho đến nay chúng ta đã giải quyết các yêu cầu liên quan đến phẩm tính của vật chất/chất liệu trong hệ thống năng lượng của mình. Phẩm tính đó phải được cải thiện.
44. So far we have addressed requirements relating to the quality of matter/substance within his energy system. That quality must be improved.
45. Chúng ta cũng đã thảo luận về mức độ và tính chất từ tính của y. Từ tính ảnh hưởng chủ yếu đến thể cảm dục và được tăng cường khi năng lượng linh hồn tràn vào phàm ngã.
45. We have also discussed the degree and quality of his magnetism. Magnetism affects primarily the astral body and is enhanced as soul energy pours into the personality.
46. Bây giờ trọng tâm của chúng ta là trang bị cho thể trí.
46. Now our focus is the equipping of the mental body.
Y cũng phải phát triển hoạt động tập thể, và học cách làm việc phối hợp với các thành viên khác.
He must likewise develop group activity, and learn to work in a co-ordinated manner with other units.
47. Khả năng này chắc chắn phù hợp với năng lượng từ trường Vishnu.
47. This ability definitely accords with the magnetic Vishnu energy.
48. Người chí nguyện bắt đầu phản ứng lại xung lực của Bảo bình và làm việc với cung bảy điều phối, tổ chức.
48. The aspirant begins to respond to the Aquarian impulse and to work with the coordinating, organizing seventh ray.
49. Về cơ bản, điểm đạo là một quá trình của nhóm và điểm đạo đồ thực sự luôn liên quan một cách xây dựng đến nhóm của y.
49. Initiation is, essentially, a group process and the true initiate is always related constructively to his group.
Đây là những điều chính yếu mà hành giả phải hoàn tất trên con đường điểm đạo; nhưng khi đã thực hiện được chúng, y sẽ tìm thấy Đường Đạo, nó sẽ trở nên rõ ràng đối với y, và bấy giờ y sẽ gia nhập vào hàng ngũ của các vị Thức giả.
These are the main things that a man must accomplish along the path of initiation, but when he has worked at them, he will find the Way, it will be made clear to him, and he will then join the ranks of the Knowers.
50. Người chí nguyện chuẩn bị điểm đạo (ứng viên điểm đạo) phải liên tục làm việc nhằm thể hiện bản thân đủ tiêu chuẩn để đại diện cho việc tăng cường rung động mà cuộc điểm đạo thể hiện. Sao Thổ, hành tinh của công việc cũng là một hành tinh hàng đầu của việc đào tạo đệ tử.
50. The aspirant to initiation (the candidate for initiation) must constantly work at rendering himself qualified for the vibratory enhancement initiation represents. Saturn, the planet of work is also a leading planet of discipleship.
51. Trước khi một người là điểm đạo đồ, y không phải là một “Thức giả”. Y không nhìn thấy; đúng hơn là y cảm thấy đang mò mẫm theo cách của mình để hướng tới sự tự do lớn hơn.
51. Before a man is initiate he is not a “Knower”. He does not see; rather he feels groping his way towards greater freedom.
Một điểm khác cần ghi nhớ là nỗ lực này, để làm cho mọi người cộng tác một cách thông minh với Thánh Đoàn, và để huấn luyện họ có thể gia nhập vào các hàng ngũ Huyền giai, như đã nói trước đây, là một nỗ lực đặc biệt—đã được phát khởi vào thời Atlantis và được tiếp tục cho đến ngày nay— do Thánh Đoàn của hành tinh này thực hiện, và phần lớn mang tính chất của một thử nghiệm.
Another point to be remembered is that this effort to make people co-operate intelligently with the Hierarchy, and to train them to join the ranks of the Lodge, is, as earlier pointed out, a special effort (inaugurated in Atlantean days and continued to this time) made by the Hierarchy of the planet, and is very largely in the nature of an experiment.
52. Chúng ta đã đọc trong các bản văn khác cách chương trình điểm đạo được thực thi vào những ngày Atlantean. Trong những ngày đó, trí thông minh của căn chủng này đã đạt đến một mức độ đủ để làm cho điều này trở nên khả thi.
52. We have read in other texts how the program of initiation was inaugurated in Atlantean days. In those days, the intelligence of the race had reached a sufficient degree of elevation to make this possible.
53. Chúng ta nhận thấy rằng có một số mức độ áp lực được áp dụng. Nỗ lực của Thánh đoàn là làm cho mọi người hợp tác một cách thông minh với các Ngài, và đào tạo họ gia nhập hàng ngũ của Huyền giai.
53. We notice that there is some degree of pressure applied. The effort by Hierarchy is to make people cooperate intelligently with them, and to train them to join the ranks of the Lodge.
54. Yếu tố áp lực và kỷ luật đã được khẳng định ngay từ đầu.
54. The factor of pressure and discipline was asserted from the first.
55. Chúng ta lưu ý rằng những gì được bắt đầu xem như một “thử nghiệm” vẫn được coi là như vậy. Nó có thể không hoạt động — trên Trái đất. Ở những nơi khác, chúng ta được biết rằng nó đã hoạt động trên sao Kim. Có nhiều hứa hẹn cho sự thành công trên Trái đất, nhưng những trở ngại cũng rất ghê gớm.
55. We note that what was started then as an “experiment” is still so regarded. It may not work—on Earth. Elsewhere we are told that it did work on Venus. There is much promise for success on Earth, but the obstacles are also formidable.
56. Toàn bộ hệ thống điểm đạo thực sự là một kiểu can thiệp thiêng liêng. Với sự chậm phát triển xảy ra đối với hành tinh Trái đất do thảm kịch dãy Mặt trăng, đó là một sự can thiệp rất cần thiết.
56. The entire system of initiation is really a kind of divine intervention. Given the retardation which befell the planet Earth due to the Moon-chain tragedy, it is a much-needed intervention.
Phương pháp mà qua đó một người nhận vị trí hữu thức trong cơ thể của một Hành Tinh Thượng Đế khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau. Vị Hành Tinh Thượng Đế sử dụng hệ hành tinh chúng ta làm thể biểu lộ của Ngài, chọn cách làm việc đặc biệt này trong thời kỳ đặc biệt này cho các mục đích cụ thể riêng của Ngài; đó là một phần của tiến trình làm sinh động một trong các luân xa của Ngài, và liên kết luân xa tim của Ngài với kết nối của nó trong đầu.
The method whereby a man assumes conscious place in the body of a Heavenly Man differs in different planetary Schemes; the Heavenly Man, Who uses our planetary Scheme as His body of manifestation, chooses to work in this particular way during this particular period for His own specific purposes; it is part of the process of vitalising one of His centres, and of linking up His heart centre with its connection in the head.
57. Chúng ta thu thập từ những gì được nói rằng điểm đạo trở thành một “phương pháp mà theo đó một người đảm nhận vị trí có ý thức trong cơ thể của một Thiên Nhân”.
57. We gather from what is said that initiation becomes a “method whereby a man assumes conscious place in the body of a Heavenly Man”.
58. Thí nghiệm về việc điểm đạo không hoạt động trên tất cả các hệ thống hành tinh.
58. The experiment of initiation is not operative on all schemes.
59. Chúng ta được gợi ý liên quan đến Thiên Nhân của chúng ta — Thiên Nhân của hệ Địa Cầu.
59. We are given a hint concerning our Heavenly Man—the Heavenly Man of the Earth-scheme.
60. Ngài không chỉ tạo sức sống cho các luân xa của mình, mà còn liên kết luân xa tim của Ngài “với sự kết nối của nó trong đầu”. Có phải Ngài đang liên kết trái tim với “trái tim trong đầu” (hoa sen mười hai cánh lớn được tìm thấy ở giữa luân xa đỉnh đầu) không? Hay là mối liên hệ giữa luân xa tim và một trong bảy luân xa đầu tương quan với luân xa tim?
60. Not only is He vitalizing his centers, but He is linking up His heart center “with its connection in the head”. Is He linking the heart with the “heart in the head” (the great twelve petalled lotus found in the midst of the center above the head)? Or is the link between the heart center and that one of the seven head centers which correlates with the heart center?
61. Trong mọi trường hợp, quá trình dường như là một quá trình thúc đẩy sự xuất hiện của Bác ái-Minh triết (cung linh hồn của Hành tinh Thượng đế của chúng ta). Bác ái của trái tim đang được kết nối với minh triết của cái đầu.
61. In any case the process seems to be one which promotes the emergence of Love-Wisdom (the soul ray of our Planetary Logos). The love of the heart is being joined to the wisdom of the head.
62. Những điều sau đây từ Cổ luận có thể được liên kết với quá trình:
62. The following from the Old Commentary may be linked to the process:
“Từ hoa sen trong đầu nở ra đoá hoa phúc lạc.
“Out of the lotus in the head springs the flower of bliss.
Hình thức sớm nhất của nó là niềm vui.
Its earliest form is joy.
Từ hoa sen trong tim nở ra đóa hoa tình thương.
Out of the lotus in the heart springs the flower of love.
Dấu hiệu sớm nhất của nó là minh triết.
Its earliest indication, wisdom is.
Từ hoa sen trong cổ họng nổi lên đoá hoa của các dạng sự sống.
Out of the lotus in the throat emerges the flower of living forms.
Dấu hiệu sớm nhất là sự hiểu biết về Thiên cơ. ”(DINA I 157-158)
The earliest sign is understanding of the Plan.“ (DINA I 157-158)
Khi các luân xa khác của Ngài được làm sinh động và hoạt động đầy đủ, thì có thể theo những phương pháp khác nhau nhằm kích thích các tế bào trong cơ thể Ngài (là các Chân thần của nhân loại và thiên thần), nhưng hiện nay thì Thần trượng Điểm đạo Vũ trụ—được áp cho một Hành Tinh Thượng Đế theo cách gần giống như cách các thần trượng thứ yếu được áp cho con người—đang được sử dụng theo một cách sao cho tạo ra sự kích thích cụ thể vốn thể hiện trong hoạt động của con người trên Đường Dự Bị và trên Đường Điểm Đạo.
As other of His centres are vitalised, and come into full activity, other methods of stimulating the cells in His body (the deva and human monads) may be followed, but for the present the cosmic Rod of Initiation, which is applied to a Heavenly Man, in much the same manner as the lesser rods are applied to man, is being utilised in such a way that it produces that specific stimulation which demonstrates in the activity of man on the Path of Probation and the Path of Initiation.
63. Đây là một phần quan trọng của văn bản. Chúng ta hiểu được rằng sự xuất hiện của những người hiện đang đi trên Con đường Dự bị với số lượng lớn và Con đường Điểm đạo với số lượng đáng kể là do một quá trình điểm đạo mà Hành tinh Thượng đế của chúng ta đang đi qua.
63. This is an important section of text. We gather that the emergence of those who are now treading the Path of Probation in large numbers and the Path of Initiation in significant numbers is due to an initiatory process through which our Planetary Logos is passing.
64. Ứng dụng của “Thần trượng Điểm đạo Vũ trụ” là ứng dụng của “Bảy ngọn lửa”, Thần trượng của Thái dương Thượng đế, được Thượng đế của Sirius phong tặng cho Ngài.
64. The application of the “cosmic Rod of Initiation” is the application of the “Sevenfold Flaming Fire”, the Rod of the Solar Logos, conferred to Him by the Logos of Sirius.
65. Nó được gọi là “vũ trụ” vì Thái dương Thượng đế và thậm chí các hành tinh Thượng đế được coi là Sinh mệnh “vũ trụ” trong một số ngữ cảnh.
65. It is called “cosmic” because the Solar Logos and even the Planetary Logoi are considered, in a number of contexts, “cosmic” Beings.
66. Như đã được gợi ý, Thái dương Thượng đế của chúng ta đang trải qua một cuộc điểm đạo thứ tư nhỏ thông qua hệ hành tinh của chúng ta.
66. As suggested, our Solar Logos is passing through a kind of minor fourth initiation through our planetary scheme.
67. Có vẻ như sự áp dụng của Thần trượng xảy ra theo thời gian và không phải là một sự kiện tức thời (ít nhất là khi con người đánh giá thời gian).
67. It appears that the application of the Rod occurs over time and is not an instantaneous event (as least as man judges time).
68. Chân sư DK đang cho chúng ta biết về phương thức kích thích các tế bào trong cơ thể của Hành tinh Thượng đế hiện nay. Các chế độ khác có thể xảy ra, nhưng chúng ta đang ở giữa cuộc thử nghiệm với 'chế độ điểm đạo của sự tiến bộ về tế bào'.
68. DK is telling us of the present mode of stimulating the cells in the body of the Planetary Logos. Other modes may eventuate, but we are very much in the middle of the experiment with the ‘initiatory mode of cellular advancement’.
[Trang 179]
[Page 179]
Do đó, hành giả phải nhận ra tính chất chu kỳ của điểm đạo, và vị trí của tiến trình này trong thời gian và không gian. Đây là một thời kỳ hoạt động đặc biệt trong chu kỳ của một Thiên Nhân (Hành Tinh Thượng Đế), và nó thể hiện trên hành tinh chúng ta như là một thời kỳ thử thách rộng lớn hay thử nghiệm điểm đạo; tuy nhiên, đây cũng là một thời kỳ sống động và của cơ hội.
Therefore man must recognise the cyclic nature of initiation, and the place of the process in time and space. This is a special period of activity in the cycle of a Heavenly Man, and it works out on our planet as a vast period of trial or initiatory testing; it is, nevertheless, equally a period of vitalisation and of opportunity.
69. Chúng ta đã học được rằng trên các dãy khác bên trong hệ hành tinh, con người tiến bộ theo những cách khác nhau — thường là thông qua năng lượng vốn có của chính mình và bị ép buộc.
69. We have learned that on other chains within out planetary scheme man advanced in different ways—often through his own inherent energy and forced.
70. Quá trình điểm đạo như nó được áp dụng hiện giờ có thể không phải lúc nào cũng hoạt động.
70. The process of initiation as it is now applied may not always be operative.
71. Từ quan điểm của con người, thời kỳ mà Hành tinh Thượng đế của chúng ta đang đi qua (và trong đó thí nghiệm với việc điểm đạo được thực hiện) dường như là một thời kỳ rộng lớn . Đối với con người hiện đại, nó đã diễn ra hàng triệu năm — kể từ giữa thời kỳ Atlantean.
71. From the human perspective, the period through which our Planetary Logos is passing (and in which the experiment with initiation is undertaken) seems a vast period. For modern man it has been going on for millions of years—ever since middle Atlantean days.
72. Toàn bộ quá trình này mang đến những thử nghiệm và những kiểm tra cũng như các cơ hội của nó. Sự sống động về mặt tinh thần của loài người có thể được tăng lên rất nhiều thông qua thủ tục điểm đạo.
72. The whole process brings its trials and tests as well as its opportunities. The spiritual vitalization of the human race can be greatly increased through initiatory procedure.
Chúng ta cũng phải cố gắng nhận thức sự kiện rằng điểm đạo có thể được thấy xảy ra trên ba cõi trong tam giới, và bao giờ cũng phải ghi nhớ giá trị và vị trí tương đối của đơn vị, hay tế bào, trong cơ thể của một Hành Tinh Thượng Đế.
We must also endeavour to realise the fact that initiation may be seen taking place on the three planes in the three worlds, and the thought must ever be borne in mind of the relative value and place of the unit, or cell, in the body of a Heavenly Man.
73. Trọng tâm của sự điểm đạo mà chúng ta quen thuộc nhất dường như là ba cõi hệ thống thấp hơn.
73. The focus of the initiations with which we are most familiar seems to be the lower three systemic planes.
74. Tuy nhiên, điều gì đó có ý nghĩa thực sự nằm sau những thay đổi được thấy trên ba cõi thấp hơn. Con người là một tế bào chân thần nằm trong luân xa của các Hành tinh Thượng đế của mình. Thông qua việc điểm đạo, giá trị tương đối và vị trí của con người đơn lẻ như một tế bào như vậy được nâng cao.
74. Something of real significance, however, lies behind the changes to be seen on the lower three planes. Man is a monadic cell within a center of his Planetary Logos. Through initiation the relative value and place of the unit man as such a cell is enhanced.
75. Sự điểm đạo của con người cuối cùng không phải vì sự nâng cao của chính y mà là để cải thiện tổ chức cơ thể của các Hành tinh Thượng đế của y.
75. The initiation of man is ultimately not for his own elevation but for the improvement of the body corporate of his Planetary Logos.
76. Vì vậy, điểm đạo bao giờ cũng là một quá trình nhóm ngay cả khi nó có vẻ như là từng cá nhân trong hiệu quả của nó.
76. Thus, initiation is ever a group process even when it seems individual in its effect.
Ở đây, điểm cần nhấn mạnh là các cuộc điểm đạo chính yếu, hay các cuộc điểm đạo của trí tuệ, là những cuộc điểm đạo diễn ra trên cõi trí và trong thể nguyên nhân.
The point must here be emphasised that the major initiations, or the initiations of manas, are those taken on the mental plane and in the causal body.
77. Trong tuyên bố này, “các cuộc điểm đạo chính yếu” bao gồm Lễ Giáng sinh và Phép rửa tội — hai lần Điểm đạo Ngưỡng. Hai cuộc điểm đạo này, giống như Biến hình và Từ bỏ được thực hiện trên cõi trí và trong thể nguyên nhân.
77. In this statement the “major initiations” include the Birth and the Baptism—two Initiations of the Threshold. These two initiations, like the Transfiguration and the Renunciation are taken on the mental plane and in the causal body.
78. Có những cuộc điểm đạo nhỏ có thể được thực hiện trên cõi cảm dục. Chân sư DK đề cập đến những điều này như là sự điểm đạo của các nguyên tố.
78. There are minor initiations which may be taken on the astral plane. DK refers to these as initiations of the elements.
Chúng đánh dấu trình độ tiến hoá mà đơn vị nhận thức trên thực tế, chứ không phải chỉ trên lý thuyết, sự đồng nhất của y với Đấng Con của Trí tuệ (Manasaputra) thiêng liêng mà y giữ một vị trí trong cơ thể của Ngài.
They mark the point in evolution where the unit recognizes in fact, and not only in theory, his identity with the divine Manasaputra in Whose body he has place.
79. “Con của Trí tuệ thiêng liêng” là Hành tinh Thượng đế trong đó cá nhân “sống và di chuyển và hiện tồn”. Thủ tục điểm đạo tiết lộ cho con người đơn lẻ vị trí và chức năng của y trong Hành tinh Thượng đế của y.
79. The “divine Manasaputra” is the Planetary Logos in which the unit “lives and moves and has his being”. The initiatory procedure reveals to the unit his place and function within his Planetary Logos.
Các cuộc điểm đạo có thể diễn ra ở cõi trần, cõi cảm dục, và cõi hạ trí, nhưng chúng không được xem là các cuộc điểm đạo chính yếu, và không phải là một sự kích thích hữu thức, có phối hợp và thống nhất, vốn bao hàm toàn thể con người.
Initiations can be taken on the physical plane, on the astral, and on the lower mental, but they are not considered major initiations, and are not a conscious, co-ordinated, unified stimulation that involves the whole man.
80. Chân sư DK không nói đến nhiều về kinh nghiệm điểm đạo như vậy, ngoại trừ để phân biệt với các cuộc điểm đạo trí tuệ (manasic) lớn hơn.
80. DK does not say to much about such initiatory experiences except to distinguish them from the greater manasic initiations.
81. Nhiều bộ phận khác nhau của con người có thể được thử nghiệm trên mười tám cõi phụ thấp hơn, nhưng toàn bộ con người không phải chịu một “sự kích thích thống nhất” đó.
81. Various parts of the man may be tested out on the eighteen lower sub-planes, but the entire man is not subjected to a “unified stimulation” thereby.
82. Có những sự chuyển giao năng lượng đáng kể xảy ra trên cõi vật chất. Ngoài ra, vào ban đêm (hoặc đang chìm sâu trong thiền định), có thể có một số loại trải nghiệm điểm đạo xảy ra trên các cõi trí và cõi hạ trí.
82. There are significant energy transfers which occur on the physical plane. Also, at night (or deep in meditation), there may be certain kinds of initiatory experiences which occur on the astral and lower mental planes.
83. Đối với những sự kiện như vậy, chúng ta nên tỉnh táo nhận ra rằng chúng là những bước chuẩn bị hướng tới sự kích thích hợp nhất hữu thức, đặc trưng của các cuộc điểm đạo manas— từ cuộc điểm đạo đầu tiên đến cuộc điểm đạo thứ năm. Ngoài điểm đó, chúng ta đã rời khỏi thế giới của Brahma.
83. To such events we should remain alert realizing that they are preparatory steps towards the conscious, co-ordinated unified stimulation characteristic of the great manasic initiations—the first through the fifth initiation. Beyond that point, we have left the world of Brahma.
Do đó, một người có thể được điểm đạo trên mỗi cõi, nhưng chỉ những cuộc điểm đạo nào đánh dấu sự chuyển di của y từ bốn cái thấp vào ba cái cao mới được xem là điểm đạo theo đúng nghĩa,
A man, therefore, may take initiation on each plane, but only those initiations which mark his transference from a lower four into a higher three are considered so in the real sense of the word,
84. Theo một cách nào đó, chúng ta đang nói về sự truyền năng lượng giữa luân xa: xương cùng đến cổ họng, luân xa tùng thái dương đến luân xa tim, luân xa đáy cột sống đến luân xa đỉnh đầu và những thứ khác.
84. In one way we are speaking of energy transferences between the center: sacral to throat, solar plexus center to heart, base of the spine center to crown, and others.
85. Theo một cách khác, chúng ta đang nói về phàm ngã là “bộ ba thấp hơn” và linh hồn hoặc tam nguyên tinh thần là “bộ ba cao hơn”
85. In another way we are speaking of the personality as the “lower four” and the soul or spiritual triad as the “higher three”
86. Mỗi một trong bốn cuộc điểm đạo đầu tiên đánh dấu sự tập trung cao hơn bên trong thể nguyên nhân thông qua việc mở ra nhiều cánh hoa bên trong hơn.
86. Each of the first four initiations marks a higher focus within the causal body through the opening of more interior petals.
87. Chúng ta cũng đọc trong TCF rằng khi trải qua ba lần điểm đạo đầu tiên, có một sự kích hoạt tương ứng trong các nguyên tử thường tồn của tam nguyên tinh thần — và do đó một sự chuyển dịch từ các nguyên tử thường tồn đại diện cho tứ nguyên vào những nguyên tử đại diện cho tam giác cao hơn của đời sống linh hồn.
87. We also read in TCF that when the first three initiations are experienced, there is a corresponding activation in the permanent atoms of the spiritual triad—and thus a transference from the permanent atoms which represent the quaternary into those which represent the higher triangle of soul life.
88. Chúng ta nên nhớ rằng tam nguyên tinh thần là linh hồn thực sự, và linh hồn với thể nguyên nhân là 'linh hồn được bao bọc'.
88. We should remember that the spiritual triad is the true soul and the soul with the causal body is the ‘shrouded soul’.
và chỉ những cuộc điểm đạo nào mà trong đó hành giả chuyển tâm thức của y từ tứ thể hạ vào Tam Thượng Thể mới là các cuộc điểm đạo chính yếu. Do đó, chúng ta có ba cấp điểm đạo: —
and only those in which a man transfers his consciousness from the lower quaternary into the triad are major initiations. We have, therefore, three grades of initiations:—
89. Với mỗi ba lần điểm đạo đầu tiên, mức độ tri giác của Tam nguyên tinh thần càng lan rộng khắp điểm đạo đồ. Ảnh hưởng của tam nguyên tinh thần đi sâu vào phàm ngã và ngược lại, con người có thể nâng cao điểm tập trung/căng thẳng mà y có thể đạt được trong thiền định.
89. With each of the first three initiations a greater degree of triadal perception pervades the initiate. The influence of the spiritual triad makes its way into the personality and conversely, man is able to elevate the point of tension he can achieve in meditation.
90. Bây giờ chúng ta sẽ tập trung vào ba cấp độ điểm đạo:
90. We will now focus on three grades of initiations:
a. những thay đổi liên quan đến sự tập trung vào cõi phụ;
a. those involving shifts of sub-plane focus;
b. những thay đổi liên quan đến sự tập trung vào cõi (chính-ND);
b. those involving shifts of planar focus;
c. những việc liên quan đến các cuộc điểm đạo nhỏ và lớn của một Thiên Nhân.
c. those involving the minor and major initiations of a Heavenly Man.
Thứ nhất, các cuộc điểm đạo mà trong đó hành giả chuyển tâm thức của y từ bốn phân cảnh thấp của cõi trần, cõi cảm dục và cõi trí theo thứ tự, vào ba phân cảnh cao.
First, initiations in which a man transfers his consciousness from the lower four subplanes of the physical, astral, and mental planes respectively, into the higher three subplanes.
91. Đây là một kiểu điểm đạo nhất định. Trên mỗi cõi hệ thống, ba lơ lửng trên bốn. Sự phân cực thành công của tâm thức trên một trong ba cõi phụ cao hơn là một loại điểm đạo đối với tâm thức như được thể hiện trên cõi cụ thể đó.
91. These are a definite type of initiation. On each systemic plane, the three hover above the four. Successful polarization of consciousness on one of the higher three sub-planes is a kind of initiation with respect to consciousness as expressed upon that particular plane.
Khi điều này được thực hiện trên cõi trí, thì hành giả được biết như là một đệ tử, một điểm đạo đồ, một vị cao đồ theo nghĩa chuyên môn.
When this is done upon the mental plane a man is then known technically as a disciple, an initiate, an adept.
92. Ba cõi phụ cao hơn của cõi trí được gọi là thượng trí. Một cách tương đối, chúng là các chiều kích arupa (vô sắc) khi so sánh với mức độ cụ thể của mười tám cõi phụ thấp hơn.
92. The higher three sub-planes of the mental plane are known as the higher mind. They are, relatively, arupa dimensions when compared to the concreteness of the lower eighteen sub-planes.
93. Khi tâm thức được chuyển vào thể nguyên nhân, thì một con người là điểm đạo đồ ở cấp độ thứ ba. Y cũng là một đệ tử thuộc loại nào đó, nhưng khi mô tả về y, thuật ngữ “điểm đạo đồ” thường thay thế cho từ “đệ tử”.
93. When consciousness is transferred into the causal body a man is an initiate of the third degree. He is also a disciple of some kind, but in describing him, the term “initiate” usually supplants the word “disciple”.
94. Nhưng y thuộc loại “cao đồ” nào; y chắc chắn không phải là một Chân sư Minh triết (giai đoạn mà thuật ngữ “Adept” thường chỉ ra).
94. But what sort of “adept” is he; he is certainly not a Masters of the Wisdom (the stage that the term “Adept” usually indicates).
95. Như đã trình bày trong văn bản dưới đây, y thực sự là một cao đồ ở mức thấp hơn. Có những thành tựu nhất định mà y đã trở nên tinh thông.
95. As stated in text below, he is actually a lesser adept. There are certain accomplishments at which he has become adept.
Bấy giờ vị [180] này dùng mỗi một trong ba phân cảnh cao của cõi trí như là một điểm mà từ đó tìm cách hoàn toàn thoát ra khỏi ba cõi biểu lộ của nhân loại để vào Tam Thượng Thể.
He uses then each of the three higher subplanes of the mental plane as a point from [Page 180] which to work his way completely out of the three worlds of human manifestation into the triad.
96. Quá trình làm việc của một người để hoàn toàn thoát khỏi tam giới và đi vào tam nguyên là quá trình xảy ra một cách có ý thức và tập trung giữa lần điểm đạo thứ ba và thứ tư. Ở lần điểm đạo thứ tư, một người hoàn toàn thoát khỏi sự quyến rũ của tam giới thấp hơn và sự cần thiết của việc hóa thân trong những thế giới đó.
96. This process of working one’s way completely out of the three worlds and into the triad is the process which occurs in a conscious and focussed manner between the third and fourth initiation. At the fourth initiation a man is completely free from the lure of the three lower worlds and the necessity of incarnating within those worlds.
97. Ngay cả trước cấp độ thứ ba, con người có một số mức độ tiếp xúc nhân thể mà y có thể sử dụng để đạt được tự do hơn bao giờ hết khỏi các thế giới tinh linh thấp hơn, nhưng trước cấp độ thứ ba, y không thể phân cực tâm thức của mình theo ý muốn trên các cõi phụ thượng trí.
97. Even before the third degree, the man has some degree of causal contact which he can use to achieve ever greater freedom from the lower, elemental worlds, but before the third degree he cannot polarize his consciousness at will upon the higher mental sub-planes.
Do đó, rõ ràng là các cuộc điểm đạo được xem là thứ yếu đều có thể được nhận ở cõi trần và cõi cảm dục, trong sự kiểm soát hữu thức của ba phân cảnh cao của các cõi này. Đây là các cuộc điểm đạo thực sự, nhưng không giúp hành giả trở thành một Chân sư Minh triết hiểu theo nghĩa chuyên môn. Y chỉ là một cao đồ ở một cấp thấp.
Therefore it is apparent that what one might consider as lesser initiations can be taken on the physical and astral planes, in the conscious control of their three higher subplanes. These are true initiations, but do not make a man what is technically understood as a Master of the Wisdom. He is simply an adept of a lesser degree.
98. Chúng ta lưu ý rằng từ ” cao đồ“ có thể được sử dụng để chỉ một người có thành tựu kém hơn so với một Chân sư Minh triết.
98. We note that the word “adept” can be used to indicate a unit of less attainment than a Masters of the Wisdom.
99. Cũng giống như có những Con rồng Minh triết nhỏ hơn, vì vậy có những cao đồ (adepts) thấp hơn.
99. Just as there are lesser Dragons of Wisdom so there are lesser adepts.
100. Ở đây những cuộc điểm đạo thấp hơn bị giới hạn trong các cõi phụ vật chất và cảm dục. Ban đầu, cõi hạ trí cũng đã được đề cập.
100. Here the lesser initiations are confined to the physical and astral sub-planes. Early the lower mental plane was also mentioned.
101. Dường như có gợi ý rằng ở lần điểm đạo đầu tiên, một mức độ tập trung tâm thức mới nào đó được tìm thấy trên các cõi phụ thứ ba của cõi thượng trí; ở cấp độ thứ hai trên cõi phụ thứ hai và ở cấp độ thứ ba trên cõi phụ thứ ba.
101. There seems to be the hint that at the first initiation some new degree of conscious focus is found upon the third sub-planes of the higher mental plane; at the second degree upon the second sub-plane and at the third degree upon the third sub-plane.
102. Tuy nhiên, tâm thức tập trung vào cõi thượng trí chỉ xảy ra ở cấp độ thứ ba.
102. The consciousness of being focussed upon the higher mental plane, however, occurs only at the third degree.
103. Tất cả các độ cao từ cõi phụ này đến cõi phụ khác (tiếp theo là sự phân cực trên cõi phụ cao hơn) đều là một loại điểm đạo nào đó.
103. All elevations from sub-plane to sub-plane (followed by polarization upon the higher sub-plane) are initiations of a kind.
Thứ hai, các cuộc điểm đạo mà trong đó hành giả chuyển tâm thức từ cõi này đến cõi khác, thay vì từ phân cảnh đến phân cảnh. Đây là một điểm cần được nhận thức cẩn thận. Một vị Chân sư Minh triết thực sự không những đã đạt được các cuộc điểm đạo thứ yếu nêu trên, mà còn đạt được năm bước gồm trong việc chế ngự hữu thức năm cõi tiến hoá của nhân loại.
Secondly, initiations in which a man transfers his consciousness from plane to plane, instead of from subplane to subplane. Herein comes a point to be carefully recognised. A true Master of the Wisdom has not only taken the lesser initiations referred to above, but has also taken the five steps involved in the conscious control of the five planes of human evolution.
104. Ở đây chúng ta đang nói đến một quá trình lớn hơn — sự chuyển tâm thức từ cõi này sang cõi khác thay vì từ cõi phụ này sang cõi phụ khác.
104. Here we are speaking of a greater process—the transference of consciousness from plane to plane instead of from sub-plane to sub-plane.
105. Chúng ta đang nói đến sự tương phản lớn giữa những người mà tâm thức của họ bị phân cực trên các cõi hồng trần, cảm dục, trí tuệ, bồ đề hoặc niết bàn trong hệ thống/thái dương hệ.
105. We are speaking of large contrasts between those whose consciousness is polarized on the systemic/solar physical, astral, mental, buddhic or atmic planes.
106. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu một Chân sư Minh triết có đạt được sự kiểm soát hoàn toàn trên các cõi bồ đề và niết bàn hay không. Ngài chắc chắn đã làm như vậy đối với ba cõi thấp hơn. Ngài, ít nhất, đã thực hiện các bước xác định đối với việc kiểm soát các cõi bồ đề và cõi atma ngay cả khi việc kiểm soát này chưa hoàn thành.
106. We can question whether a Masters of the Wisdom has achieved complete control on the buddhi and atmic planes. He certainly has done so with respect to the lower three planes. He has, at least, taken definite steps towards the control of the buddhic and atmic planes even if this control is not complete.
107. Một vị La Hán phân cực vào cõi bồ đề; một Chân sư Minh triết phân cực vào cõi atma (ít nhất là ở một mức độ nào đó). Các tài liệu tham khảo khác nhau liên quan đến mức độ phân cực niết bàn này.
107. An Arhat is buddhically polarized; a Masters of the Wisdom is atmically polarized (to some extent at least). References vary in relation to this degree of atmic polarization.
Bấy giờ, Ngài còn phải đạt hai cuộc điểm đạo cuối cùng, giúp Ngài thành một vị Đế quân ở cấp thứ sáu, và một vị Phật, trước khi sự kiểm soát đó được mở rộng đến hai cõi còn lại của thái dương hệ.
It remains for him then to take the two final initiations which make him a Chohan of the sixth degree, and a Buddha, before that control is extended to the remaining two planes of the solar system.
108. Chân sư DK phân biệt Chohan với một vị Phật. Có vẻ như Phật Gautama đã được gọi là “Đức Phật” khi Ngài còn là một Chohan và trước khi Ngài đạt được một chỗ đứng nhất định trong cấp độ thứ bảy.
108. DK differentiates a Chohan from a Buddha. It appears that Gautama Buddha was called a “Buddha” when He was a Chohan and before He had attained a certain footing in the seventh degree.
109. Trong mọi trường hợp, người ta cho rằng một Chohan đã mở rộng quyền kiểm soát của Ngài đến cõi hệ thống thứ sáu và một vị Phật đã mở rộng quyền kiểm soát đến cõi hệ thống thứ bảy. Về mặt này, Đấng Christ bây giờ là một vị Phật — Phật Di Lặc.
109. In any case, it is suggested that a Chohan has extended His control to the sixth systemic plane and that a Buddha has extended control to the seventh. In this respect, the Christ is now a Buddha—Maitreya Buddha.
110. Suy nghĩ về trạng thái điểm đạo và kiểm soát các cõi giới được đưa ra ở đây theo một kiểu rất tuyến tính. Không còn nghi ngờ gì nữa, có sự thật tuyệt vời cho những gì được nói, ngay cả khi các tài liệu tham khảo khác cho thấy một Chân sư tập trung chủ yếu vào cõi bồ đề và điểm đạo đồ cấp độ thứ sáu tập trung chủ yếu vào cõi atma.
110. Thoughts about initiatory status and planar control are given here in a very linear fashion. No doubt there is great truth to what is said, even if other references show a Master focussing primarily buddhically and a sixth degree initiate focussing primarily atmically.
Do đó, hiển nhiên là đúng khi nói đến bảy cuộc điểm đạo, nhưng cũng vẫn đúng khi liệt kê ra năm, mười, hay mười hai cuộc điểm đạo.
It is obvious, therefore, that it is correct to speak of the seven initiations, yet it would be nevertheless equally correct to enumerate five, ten, or twelve initiations.
111. Đây là một điểm quan trọng nếu có tính trừu tượng cao và nên khuyến khích chúng ta có thái độ thận trọng khi liệt kê các cuộc điểm đạo có thể xảy ra đối với đơn vị con người.
111. This is an important if highly abstruse point and should encourage us to take a guarded attitude when enumerating the initiations which are possible to the unit, man.
112. Sẽ phụ thuộc rất nhiều vào điểm xuất phát của chúng ta và vào việc có bao nhiêu 'cuộc điểm đạo tạm thời' được đưa vào bảng liệt kê của chúng ta.
112. So much will depend upon our starting point and how many ‘interim initiations’ are included in our enumeration.
Vấn đề này thật rắc rối đối với môn sinh huyền bí học, vì đương nhiên là họ không biết gì về một số yếu tố huyền bí mà cho đến nay đối với họ vẫn hoàn toàn không thể hiểu.
The matter is complicated for occult students, owing to certain mysterious factors about which they can naturally know nothing, and which must remain to them, as yet, utterly incomprehensible.
113. Vâng, chắc chắn rằng chúng ta sẽ không đi sâu vào câu nói này. Nó được che đậy rất nhiều.
113. Well, it is certain that we are not going to penetrate this statement. It is tremendously veiled.
Các yếu tố này được dựa trên tính cách riêng của chính Thiên Nhân, và bao hàm các bí nhiệm như là nghiệp quả riêng của Ngài, mục tiêu mà Ngài có thể có trước mắt cho một chu kỳ đặc biệt nào đó, và sự chuyển hướng chú ý của bản ngã cấp vũ trụ của một Thiên Nhân đến sự phản chiếu của Ngài, là vị Thiên Nhân đang tiến hoá của một thái dương hệ.
These factors are founded in the individuality of the Heavenly Man Himself, and involve such mysteries as His particular karma, the aim He may have in view for any particular cycle, and the turning of the attention of the cosmic ego of a Heavenly Man to His reflection, the evolving Heavenly Man of a solar system.
114. Ba yếu tố liên quan đến việc chúng ta không thể thống kê rõ ràng số lần điểm đạo có thể phải đối mặt với con người.
114. Three factors are related to our inability to clearly enumerate the number of initiations which can face the human being.
a. Nghiệp lực đặc biệt của một Thiên Nhân
a. The particular karma of a Heavenly Man
b. Mục tiêu của vị Thiên Nhân cho bất kỳ chu kỳ cụ thể nào
b. The aim of the Heavenly Man for any particular cycle
c. Sự chuyển hướng “chân ngã cấp vũ trụ” (tức là biểu hiện nhân thể của Thiên Nhân) đến sự phản chiếu của Ngài trong tam giới thấp hơn — xét về mặt vũ trụ. Nói cách khác, có một mối quan hệ khó lường giữa Thái dương Thiên thần của một Thiên Nhân và biểu hiện phàm ngã của Thiên Nhân đó trong một thái dương hệ. Sự tương tự giống như mối quan hệ của Chân ngã của con người ở cõi thượng trí với phàm ngã hoạt động ở tam giới thấp hơn.
c. The turning of the “cosmic ego” (i.e., the causal expression of the Heavenly Man) to His reflection in the lower three worlds—cosmically considered. In other words, there is an unfathomable relationship between the Solar Angel of a Heavenly Man and the personality expression of that Heavenly Man in a solar system. The analogy is similar to the relationship of the Ego of man on the higher mental plane to the personality functioning in the lower three worlds.
115. Khi nào Thái dương Thiên thần giám sát một con người chuyển sự chú ý của Ngài sang con người đó? Trong quá trình phát triển cánh hoa thứ năm của hoa sen chân ngã. Có lẽ có một sự tương tự nào đó khi chúng ta tìm kiếm thời điểm đó với việc “chân ngã vũ trụ của một Thiên Nhân” hướng sự chú ý vào hình ảnh phản chiếu của Ngài? Giai đoạn nào của sự khai mở chân ngã vũ trụ là cần thiết cho sự “chuyển hướng” của “sự chú ý” như vậy?
115. When does the Solar Angel supervising a human unit turn His attention to that unit? During the development of the fifth petal of the egoic lotus. Perhaps there is an analogy when we seek for that point in time with the “cosmic ego of a Heavenly Man” turns his attention to His reflection? What stage of cosmic egoic unfoldment is required for such a “turning” of “attention”?
Một yếu tố khác nữa cũng có thể thấy trong một số thời kỳ của sự kích thích, và của việc tiếp sinh lực được gia tăng, như khi một cuộc điểm đạo vũ trụ tạo ra.
A further factor may also be found in certain periods of stimulation, and of increased vitalisation, such as a cosmic initiation produces.
116. Thái dương Thượng đế của chúng ta đang ở giữa cuộc điểm đạo vũ trụ, ví dụ, liên quan đến hệ Địa cầu.
116. Our Solar Logos is in the midst of a cosmic initiation involving, for instance, the Earth-scheme.
117. Sự tác động qua lại ban đầu giữa Thái dương Thượng đế và Hành tinh Thượng đế của chúng ta có thể tạo ra những điều kiện khó lường khiến con người không thể tự tin hiểu được bản chất và số lượng của các cuộc điểm đạo khác nhau mà y có thể vượt qua.
117. The initiatory interplay between the Solar Logos and our Planetary Logos may create unfathomable conditions which make it impossible for man to confidently understand the nature and numbering of the various initiations through which he may pass.
Các ảnh hưởng ngoại lai này đương nhiên [181] tạo ra những kết quả nơi các đơn vị hay các tế bào trong cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế, và thường đưa đến những biến cố bất ngờ và có vẻ không thể giải thích rõ ràng được.
These outside effects naturally [Page 181] produce results in the units or cells in the body of the Heavenly Man, and lead often to events unforeseen and apparently inexplicable.
118. Chân sư DK đang chỉ ra những nguyên nhân vượt xa tầm hiểu biết hoặc khả năng kiểm soát của chúng ta. Nếu có những điều che khuất gặp phải khi chúng ta nghiên cứu thuyết huyền bí tâm linh, thì nguyên nhân của tất cả những điều che khuất không thể là do sự u mê của chúng ta khi còn là môn sinh.
118. DK is pointing to causes far beyond our understanding or control. If there are obscurities encountered as we study spiritual occultism, the cause of all obscurities cannot be attributed to our dullness as students.
Thứ ba, những cuộc điểm đạo mà trong đó một vị Hành Tinh Thượng Đế có thể nhận một cuộc điểm đạo thứ yếu hay chính yếu, qua đó bao gồm trọn cả bản tính Ngài.
Thirdly, initiations in which a Heavenly Man may take either a minor or a major initiation, thereby involving His entire nature.
119. Đối với đơn vị con người bé nhỏ, những cuộc điểm đạo này (cho dù chính hay phụ từ quan điểm của một Thiên Nhân) sẽ luôn luôn là thời điểm quan trọng nhất.
119. As far as the tiny unit man is concerned, these initiations (whether major or minor from the perspective of a Heavenly Man) will always be of the utmost moment.
120. Vị Thiên Nhân của chúng ta đang trải qua cuộc điểm đạo thứ tư thuộc loại này vào lúc này. Tuy nhiên, nó không phải là một cuộc điểm đạo vũ trụ. (xem TCF 384)
120. Our Heavenly Man is passing through a fourth initiation of this kind at this time. It is, however, not a cosmic initiation. (cf. TCF 384)
Ví dụ như, khi cuộc biệt lập ngã tính xảy ra trong thời kỳ Lemuria, hay căn chủng thứ ba, và gia đình nhân loại đã dứt khoát đi vào biểu lộ trong chu kỳ này; nó đã biểu thị một cuộc điểm đạo chính yếu đối với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.
For instance, when individualisation took place during the Lemurian, or the third root race, and the human family in this cycle definitely came into manifestation, it signified a major initiation for our Heavenly Man.
121. Có thể cần phải phân biệt giữa các thuật ngữ “điểm đạo chính yếu” và “cuộc điểm đạo vũ trụ”. Chúng ta đã thấy Lễ Giáng sinh và Phép Rửa tội (trong ngữ cảnh được sử dụng ở đây) như thế nào để được coi là những cuộc điểm đạo “chính yếu”, mặc dù trong những bối cảnh khác, cấp độ thứ ba bắt đầu chu kỳ của những cuộc điểm đạo “chính yếu”.
121. It may be necessary to differentiate between the terms “major initiation” and “cosmic initiation”. We have seen how the Birth and the Baptism are (in the context here used) to be considered as “major” initiations, even though in other contexts the third degree begins the cycle of “major” initiations.
122. Có thể vị Thiên Nhân đang trải qua một loạt các cuộc điểm đạo “chính yếu”, mặc dù chúng chưa phải là các cuộc điểm đạo “vũ trụ”.
122. It is possible for the Heavenly Man to be experiencing a series of “major” initiations, even though they are not yet “cosmic” initiations.
123. Những cuộc điểm đạo “chính yếu” sẽ là những cuộc điểm đạo trải qua một dãy hành tinh. Một cuộc điểm đạo “vũ trụ” sẽ là một cuộc điểm đạo liên quan đến toàn bộ hệ hành tinh.
123. “Major” initiations would be those experienced through a planetary chain. A “cosmic” initiation would be one involving the entire planetary scheme.
124. Cũng phụ thuộc nhiều vào ý nghĩa của “Thiên Nhân của chúng ta”. Không chỉ Chúa tể của hệ Địa cầu là một Thiên Nhân, mà Chúa tể Dãy Địa cầu và thậm chí là Chúa tể của bầu Địa cầu cũng vậy. Cần thận trọng.
124. Much depends, as well, on what is meant by “our Heavenly Man”. Not only is the Lord of the Earth-scheme a Heavenly Man, but so is a Chain Lord and even a Globe Lord. Caution is required.
125. Thiên Nhân của hệ Địa cầu của chúng ta, mục tiêu của Ngài là cuộc điểm đạo “vũ trụ” thứ hai. Có hợp lý không khi nghĩ rằng cách đây hai mươi mốt triệu năm Ngài đã trải nghiệm cuộc điểm đạo vũ trụ đầu tiên của Ngài? Khung thời gian có vẻ quá ngắn.
125. The Heavenly Man of our Earth-scheme has as His goal the second “cosmic” initiation. Would it make sense to think that some twenty-one million years ago He experienced His first cosmic initiation? The time frame seems too short.
Sự kích thích hiện nay trong nỗ lực của Thánh Đoàn đang đưa đến một cuộc điểm đạo thứ yếu.
The present stimulation in hierarchical effort is leading up to a lesser initiation.
126. Sự kích thích hiện tại trong nỗ lực Thánh đoàn đang dẫn đến cuộc điểm đạo lần thứ tư cho Hành tinh Thượng đế của chúng ta thông qua dãy thứ tư và bầu địa cầu thứ tư của chúng ta. Tuy nhiên, cuộc điểm đạo này phải được coi là “thấp hơn” khi so sánh với việc biệt lập ngã tính của con người thông qua sự xuất hiện của các Hỏa Tinh quân (Chúa tể của Ngọn lửa).
126. The present stimulation in hierarchical effort is leading towards a fourth initiation for our Planetary Logos through our fourth chain and fourth globe. Yet this initiation must be considered as “lesser” when compared to the individualization of man through the coming of the Lords of the Flame.
Mỗi đại chu kỳ nhìn thấy một cuộc điểm đạo chính yếu của Hành Tinh Thượng Đế, xảy ra trên một trong các bầu hành tinh, và ở đây lại là điều phức tạp, và rất đáng cho chúng ta suy gẫm.
Each great cycle sees a major initiation of a Heavenly Man taken on one or other of the globes, and herein again complication lies, and much food for thought.
127. Chúng ta không biết Chân sư DK hàm ý gì ở đây bởi một “đại chu kỳ”. Ý của Ngài là một vòng tuần hoàn của hệ hành tinh? Một vòng tuần hoàn của dãy hành tinh?
127. We do not know what DK means here by a “great cycle”. Does He mean a scheme round? A chain round?
128. Bảy cuộc điểm đạo là mục tiêu của Thiên Nhân “của chúng ta”. Đây có phải là những điểm đạo được gọi là chính yếu? Có vẻ như những lần điểm đạo như vậy nên đề cập đến bảy dãy hành tinh, với một cuộc điểm đạo cho mỗi dãy. Sự xuất hiện của Hỏa tinh quân có phải là cuộc điểm đạo “chính yếu” cho dãy của chúng ta không?
128. Seven initiations are the objective of “our” Heavenly Man. Are these the ones which are referred to as major? It would seem that such initiations should refer to the seven chains, with one for each chain. Was the coming of the Lord of the Flame the “major” initiation for our chain?
129. Có vẻ như trong hệ Địa cầu, chúng ta đang trải qua vòng tuần hoàn hệ thứ tư cũng giống như Thượng đế của hệ sao Kim đang trải qua vòng tuần hoàn thứ năm.
129. It would seem that within the Earth-scheme we are experiencing the fourth scheme round just as the Logos of the Venus-scheme is experiencing the fifth.
130. Có lẽ Biệt lập ngã tính là cuộc điểm đạo chính cho vòng tuần hoàn hệ thứ tư trong khi lần điểm đạo thứ tư hiện đang ở trong quá trình có ảnh hưởng nhiều hơn trên dãy của chúng ta.
130. Perhaps Individualization was the major initiation for the fourth scheme round whereas the fourth initiation now in process has more bearing on our chain.
131. Rõ ràng, sự phức tạp là rất lớn và nhiều suy nghĩ trực quan (được theo đuổi theo thời gian) sẽ là cần thiết để làm sáng tỏ bí ẩn.
131. Obviously, the complication is great and much intuitive thought (pursued over time) will be necessary to unravel the mystery.
Chúng ta cũng có thể vắn tắt thêm vào ba điểm nói trên về việc đi vào hay việc chuyển ra của một cung cụ thể nào đó. Không thể nói nhiều về điều này, vốn là một điều hết sức khó khăn, và có thể tóm tắt trong ba phát biểu sau đây:
To the three above points we might also briefly add that of the coming in, or passing out, of any particular ray. The little that can be said upon this point, which is one of the greatest difficulty, might be summed up in the following three statements:
132. Chúng ta đang nói về các kiểu điểm đạo gặp phải khi đơn vị con người tí hon cố gắng tìm kiếm nơi chốn và vị trí của mình bên trong Hành tinh Thượng đế của y.
132. We are speaking of the types of initiation to be encountered as the tiny unit man attempts to find his place and position within his Planetary Logos.
133. Sự vào và ra của năng lượng cung góp phần vào quá trình điểm đạo và thêm phức tạp.
133. The entry and exit of ray energies contribute to the initiatory process and add more complication.
134. Sẽ thật yên tâm nếu huyền linh học chỉ đề cập đến những nguyên lý tuyệt vời và đơn giản, nhưng rõ ràng là Chân sư DK nhìn thấy một thế giới rất phức tạp, sự phức tạp mà chúng ta có thể sẽ thấy kinh ngạc nếu chúng ta có thể nhận thức được nó.
134. It would be reassuring if occultism dealt only with great and simple principles, but it must be obvious that Master DK sees a very complicated world, the complexity of which we would probably find staggering if we could cognize it at all.
135. Bây giờ chúng ta sẽ tổng hợp các điểm liên quan đến tác động của cung đối với thủ tục điểm đạo mà con người đi qua.
135. We are now going to sum up points relating to the effect of rays upon the initiatory procedure through which man is passing.
Thứ nhất, các cuộc điểm đạo nhận được trên bốn cung thứ yếu không ngang cấp với các cuộc điểm đạo nhận được trên ba cung chính yếu. Điều này hơi khó hiểu do sự kiện là bên trong hệ hành tinh, trong cuộc tiến hoá theo chu kỳ, một cung phụ có thể tạm thời được xem là một cung chính yếu. Ví dụ như, vào lúc đặc biệt này của hệ hành tinh chúng ta, Cung bảy, cung Định luật Nghi lễ hay Trật tự, được xem là một cung chính, là một cung tổng hợp, và là cung mà trên đó Đức Văn Minh Đại Đế đang phối hợp công việc của Ngài.
First, that initiations taken on the four minor rays rank not in equality with initiations taken upon the major three. This is complicated somewhat by the fact that within the planetary Scheme, during cyclic evolution, a minor ray may be temporarily regarded as a major ray. For instance, at this particular time in our planetary Scheme, the seventh Ray of Ceremonial Law or Order is regarded as a major ray, being a ray of synthesis, and one on which the Mahachohan is blending His work.
136. Các cuộc điểm đạo dẫn đến lần điểm đạo thứ năm lần lượt được thực hiện trên các cung bảy, sáu, năm và bốn. Lần điểm đạo thứ năm được thực hiện trên cung một, lần điểm đạo thứ sáu trên cung ba và lần điểm đạo thứ bảy trên cung hai.
136. The initiations leading up to the fifth initiation are taken on the seventh, sixth, fifth and fourth rays respectively. The fifth initiation is taken on the first ray, the sixth initiation on the third ray and the seventh initiation on the second ray.
137. Rõ ràng, lần điểm đạo thứ năm, thứ sáu và thứ bảy là thời điểm vĩ đại hơn bốn lần điểm đạo trước đó.
137. Obviously, the fifth, sixth and seventh initiations are of greater moment than the earlier four.
138. Trong thời đại hiện nay của chúng ta, nhân loại đang có cơ hội điểm đạo đầu tiên. Cơ hội này có thể tương quan với thực tế là cung bảy (thường không phải là cung chính) hiện được coi là như vậy. Tất nhiên, có nhiều lý do khác khiến cơ hội đạt được cấp độ đầu tiên này có thể được cung cấp cho nhân loại.
138. In our present era humanity is having the opportunity to take the first initiation. This opportunity may correlate with the fact that the seventh ray (usually not a major ray) is now considered to be so. Of course, there are many other reasons why this first degree opportunity can now be offered to humanity.
Thứ hai, ba cuộc điểm đạo đầu tiên được thực hiện dựa trên cung của Chân nhân, và liên kết hành giả với Đại Bạch Giai; hai cuộc điểm đạo sau được thực hiện trên cung của Chân thần, và có ảnh hưởng nhất định (một hiệu quả rõ rệt) trên con đường phụng sự mà vị Chân sư chọn về sau.
Secondly, that the first three initiations are taken upon the ray of the Ego, and link a man up with the great White Lodge; the last two are taken upon the ray of the monad, and have a definite effect upon the path for service that will be chosen later by the adept.
139. Đây là một tuyên bố quan trọng nhất nhưng một quan điểm khác có thể được đưa ra trong LOM p. 267, nơi người ta cho rằng sau lần điểm đạo thứ hai, một người có thể đổi sang cung Đạo viện tương ứng với cung Chân thần của y.
139. This is a most important statement but an alternative view is possibly given in LOM p. 267, where it is suggested that after the second initiation a man may change to the ray Ashram which corresponds to his monadic ray.
140. Một câu hỏi đặt ra về tầm quan trọng của cung Chân thần khi thực hiện cuộc điểm đạo thứ ba. Nó tiềm ẩn hay hoạt động trong cuộc điểm đạo đó?
140. A question arises as to the importance of the monadic ray at the taking of the third initiation. Is it implicit or active in that initiation?
141. Trong khi một số tài liệu tham khảo đã khẳng định rằng các Con đường Vũ trụ trên Con đường Tiến hóa Cao hơn không phải là các Con đường cung, nhưng rõ ràng từ tài liệu tham khảo này, cung Chân thần và hai lần điểm đạo cuối cùng (lần thứ tư và thứ năm điểm đạo hành tinh) có tác động nhất định đến Con đường cao hơn sẽ được điểm đạo đồ lựa chọn ở sự quyết định quan trọng (cuộc điểm đạo thứ sáu).
141. While it has been affirmed in a number of references that the Cosmic Paths on the Way of Higher Evolution are not, per se, ray Paths, it is clear from this reference that the monadic ray and the final two initiations (the fourth and fifth planetary initiations) have a definite impact upon the Higher Path which will be chosen by the initiate at the Great Decision (the sixth initiation).
Lời phát biểu này phải được kết hợp với lời phát biểu trước đây, nói [182] rằng cuộc điểm đạo thứ năm giúp hành giả trở nên một thành viên của Huyền Giai Vĩ Đại hay Huynh Đệ Đoàn trên Sirius, và thực sự là cuộc điểm đạo thứ nhất của Sirius.
This statement must be linked up with that earlier made, which stated that the fifth initiation made a man [Page 182] a member of the Greater Lodge, or Brotherhood, on Sirius, being literally the first of the Sirian initiations.
142. Chân sư Minh triết chỉ là một “Học viên mới Vào nghề” khiêm tốn trong mối quan hệ với Huynh đệ Đoàn trên Sirius.
142. The Master of Wisdom is but a humble “Entered Apprentice” in relation to the Brotherhood on Sirius.
143. Nếu cuộc điểm đạo thứ năm được thực hiện trên cung của Chân thần, thì cuộc điểm đạo Sirius đầu tiên được thực hiện trên cung của Chân thần.
143. If the fifth initiation is taken on the ray of the Monad, then the first Sirian initiation is taken on the ray of the Monad.
144. Có lẽ, chính cung Chân thần quyết định phần lớn việc liệu điểm đạo đồ cấp độ thứ sáu có bước trên Con đường dẫn đến Sirius hay không.
144. Probably, it is the monadic ray which determines in large measure whether the initiate of the sixth degree will tread the Path to Sirius.
145. Do các Chân thần cung ba đi trên Con đường dẫn đến Sirius — các Ngài được ban cho rất nhiều khả năng phát triển trí tuệ. Chúng ta không thể nói, “Không”, bởi vì Đức Phật, một Chân thần cung ba, đã quyết định Con đường đó (mặc dù, người ta cho rằng bây giờ Ngài sẽ không làm như vậy).
145. Do third ray Monads tread the Path to Sirius—endowed are they are with a great deal of manasic development. We cannot say, “No”, because the Buddha, a third ray Monad, was to have taken that Path (even though, it is presumed, He will not now do so).
Cuộc điểm đạo thứ tư là tổng hợp các cuộc điểm đạo Ngưỡng trong Huyền giai Sirius.
The fourth initiation is the synthesis of the Initiations of the Threshold in the Sirian Lodge.
146. Đối với con người tham gia vào các cuộc điểm đạo trên hành tinh và thái dương, hai cuộc điểm đạo đầu tiên (Lễ Giáng sinh và Phép rửa tội) được coi là “Điểm đạo Ngưỡng”.
146. For the human being engaged in planetary and solar initiations, the first two initiations (the Birth and Baptism) are considered “Initiations of the Threshold”.
147. Đối với một người đang bước vào hệ thống điểm đạo của Sirius, bốn lần điểm đạo đầu tiên trên hành tinh của Trái đất được coi là “Điểm đạo Ngưỡng”.
147. For one who is entering the Sirian system of initiations, the first four of Earth’s planetary initiations are considered “Initiations of the Threshold”.
Cuối cùng, tùy theo cung mà trên đó hành giả được điểm đạo, mà phần lớn con đường phụng sự về sau phụ thuộc vào đó.
Finally, according to the ray on which initiation is taken, so very largely depends the subsequent path of service.
148. Đây là phát biểu lại những gì đã được đề xuất trước đó. Chúng ta đang nói đến cuộc điểm đạo thứ tư và thứ năm, cung mà các Ngài nhận điểm đạo (cung Chân thần), và tác động của những cuộc điểm đạo đó và cung mà các Ngài thực hiện lên “con đường phụng sự tiếp theo”.
148. This is a restatement of what was earlier suggested. We are speaking of the fourth and fifth initiations, the ray upon which they are taken (the monadic ray) and the impact of those initiations and the ray on which they are taken upon the “subsequent path of service”.
Ngày của Cơ hội.
The Day of Opportunity.
Câu hỏi có thể dặt ra ở đây là liệu thông tin này có giá trị đối với môn sinh chăng. Để minh họa cho điều này, các môn sinh nên khôn ngoan suy gẫm kỹ ý nghĩa sự giáng nhập của Cung hiện nay, là cung Định luật Nghi lễ hay Pháp thuật. Đó là cung vận dụng các mãnh lực kiến tạo của thiên nhiên, liên quan đến việc trạng thái sự sống sử dụng hình tướng một cách thông minh.
The question might here be asked wherein this information is of value to the student. In illustration of this it would be wise if students would ponder the significance of the coming in of the present Ray of Ceremonial Law or Magic. It is the ray that deals with the building forces of nature, that concerns itself with the utilisation of the form intelligently by the life aspect.
149. Chân sư DK đang gợi ý rằng thông tin được truyền đạt trong IHS thực sự có thể được sử dụng, đặc biệt là bởi vì sự đi vào của Cung bảy của Định Luật Nghi Lễ, Trật tự và Huyền thuật sẽ giúp cho việc sử dụng khả thi hơn.
149. DK is suggesting that the information imparted in IHS can, indeed, be used, especially because the entry of the Seventh Ray of Ceremonial Law, Order and Magic will make utilization more possible.
150. Độc giả của cuốn sách nhỏ tuyệt đẹp này có thể tự hỏi làm thế nào mà những thông tin rất trừu tượng lại có thể được ứng dụng.
150. Readers of this magnificent little book might wonder how the very abstruse information could find application.
Đây phần lớn là cung của công tác quản trị, với mục tiêu kiến tạo, phối hợp và tạo sự cố kết trong bốn giới thấp của thiên nhiên. Nó được phân biệt phần lớn bởi năng lượng tự biểu hiện trong nghi lễ, nhưng từ nghi lễ này không nên được thu hẹp xuống mức sử dụng hiện nay của nó trong nghi lễ của hội Tam Điểm hay tôn giáo. Áp dụng của nó thì rộng lớn hơn rất nhiều, và gồm các phương pháp tổ chức được thể hiện trong mọi cộng đồng văn minh, như trong giới thương mại hay tài chính, và các tổ chức kinh doanh lớn ở khắp nơi.
It is largely the ray of executive work, with the object of building, co-ordinating and producing cohesion in the four lower kingdoms of nature. It is distinguished largely by the energy which manifests itself in ritual, but this word ritual must not be narrowed down to its present use in connection with Masonic, or religious ritual. Its application is far wider than this, and includes the methods of organisation which are demonstrated in all civilised communities, such as in the world of commerce and of finance, and the great business organisations everywhere to be seen.
151. Chân sư DK nói về sự đang xuất hiện của cung thực tế nhất này — cung bảy.
151. DK is speaking of the incoming of this most practical ray—the seventh.
152. Rõ ràng rằng cung bảy là một cung tài chính lớn, cũng như cung ba, theo một nghĩa trừu tượng hơn.
152. It is clear that the seventh ray is a great financial ray, as is the third, in a more abstract sense.
153. Cung bảy thúc đẩy sự gắn kết cũng như cung hai.
153. The seventh ray promotes cohesion as does the second ray.
Trên hết mọi sự, điều thú vị của nó đối với chúng ta ở sự kiện đây là cung mang cơ hội đến cho các giống dân Tây phương, và qua trung gian của mãnh lực sự sống của tổ chức quản trị, của sự cai trị bằng luật lệ và trật tự, bằng tiết điệu và nghi thức, sẽ đến lúc các chủng tộc Tây phương (với trí tuệ cụ thể, tích cực và năng lực làm việc rộng lớn của họ) có thể được điểm đạo— một cuộc điểm đạo mà chúng ta phải nhớ là trên một cung tạm thời được công nhận như là một cung chính.
Above all, its interest lies for us in the fact that it is the ray which brings opportunity to the occidental races, and through the medium of this life force of executive organisation, of government by rule and order, by rhythm and by ritual, will come the time wherein the occidental races (with their active, concrete mind, and their vast business capacity) can take initiation,—an initiation, we must remember, upon a ray which is temporarily recognised as a major ray.
154. Chân sư đi đến điểm (ND: kết luận). Sự xuất hiện của cung bảy báo hiệu cơ hội điểm đạo cho các căn chủng người phương Tây.
154. DK arrives at the point. The incoming of the seventh ray signals initiatory opportunity for the occidental races.
155. Ngài chủ yếu nói về cơ hội liên quan đến lần điểm đạo đầu tiên.
155. He is largely speaking of opportunity in relation to the first initiation.
Phần đông các điểm đạo đồ và [183] những vị đã đạt được trình độ Chân sư trong chu kỳ trước, là người Đông phương và trong xác thân người Ấn độ. Chu kỳ đó đã do cung sáu, là cung vừa đi qua, cùng hai cái [cung] trước thống ngự.
A large number of the initiates and [Page 183] those who have obtained adeptship in the last cycle, have been orientals and those in Hindu bodies. This cycle has been dominated by the sixth ray, which is just passing out, and the two preceding.
156. Chân sư DK nói về hai cung trước hay hai chu kì trước?
156. Is DK speaking of two preceding rays or of two preceding cycles?
157. Ở đây chúng ta có thể đang nói đến một chu kỳ lớn hơn là một kỷ nguyên theo điểm phân (equinoctial). Cung sáu trong một chu kỳ lớn hơn đã được biểu hiện trong hàng nghìn năm:
157. We may here be speaking of a larger cycle than simply an equinoctial age. The sixth ray in a larger cycle has been in expression for thousands of years:
Ví dụ, Cung bảy của Tổ chức Nghi lễ hiện đang đến, và Cung sáu của Sùng tín sắp thoát ra; tuy nhiên cung sáu này là một chu kỳ cung chính và ảnh hưởng của nó sẽ không hoàn toàn biến mất trong 21.000 năm nữa. (EP I 190)
For instance, the seventh Ray of Ceremonial Organisation is now coming in, and the sixth Ray of Devotion is going out; yet this sixth ray is a major ray cycle and its influence will not entirely disappear for another 21,000 years. (EP I 190)
Để duy trì sự quân bình, nay sẽ đến một thời kỳ thành đạt của người Tây phương, và điều này xảy ra trên một cung thích hợp với loại trí tuệ của họ.
In the preservation of equilibrium the time now comes when a period of attainment by occidentals will be seen, and this upon a ray suited to their type of mind.
158. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu sự đạt được này phải xảy ra trong vòng 2500 năm tới hay lâu hơn, hay liệu với sự xuất hiện của Thời đại Bảo Bình lớn hơn 25.000 năm, một biểu hiện cung bảy lớn hơn cũng sẽ tồn tại với chúng ta kéo dài hàng nhiều ngàn năm như vậy.
158. We may question whether this attainment must occur within the next 2500 years or so, or whether with the coming in of the greater Age of Aquarius of 25,000 years, a greater seventh ray expression will also be with us lasting also those many thousands of years.
Thật thú vị khi lưu ý rằng mẫu người Đông phương đạt mục tiêu của họ qua tham thiền, với một số lượng nhỏ về tổ chức quản trị và nghi thức, còn người Tây phương sẽ thành đạt phần lớn qua sự tổ chức mà hạ trí tạo ra, và một lối tham thiền mà sự định trí cao độ vào công việc có thể xem là một minh họa.
It is interesting to note that the oriental type attains its objective through meditation, with a modicum of executive organisation and ritual, and that the occidental will achieve largely through the organisation which lower mind produces, and a type of meditation of which intense business concentration might be considered an illustration.
159. Chúng ta không thể giải thích sự tiến bộ của phương Tây theo các thuật ngữ phương Đông. Những người tích cực tham gia vào công việc kinh doanh và tổ chức đang tiến bộ về mặt tinh thần theo con đường riêng của họ.
159. We cannot interpret western progress in oriental terms. Those actively engaged in the occident in business and organizational work are progressing spiritually along their own line.
160. Tuy nhiên, thật thú vị khi lưu ý rằng phương Đông đã tiếp thu những cách thức của phương Tây như thế nào và ngày càng tham gia vào công việc kinh doanh và tổ chức một cách mạnh mẽ.
160. It is interesting however to note how the East has picked up western ways and is increasingly engaged in intense business and organizational work.
Sự áp dụng trí tuệ nhất tâm của một thương gia người Âu hay người Mỹ có thể được xem là một loại tham thiền. Nếu sự thanh khiết của động cơ nằm đằng sau việc áp dụng này, thì thời của cơ hội sẽ đến đối với người Tây phương.
The one-pointed application of the mind by a European or American business man might be regarded as a type of meditation. In the purification of motive lying back of this application will come, for the occidental, his day of opportunity.
161. Ngay bây giờ động cơ cho công việc kinh doanh và tổ chức có thể được coi là khá ích kỷ và cá nhân — mặc dù đương nhiên có những ngoại lệ.
161. Right now the motive for business and organizational work can justly be considered rather selfish and personal—although there are naturally exceptions.
162. Nếu động cơ được thanh lọc và việc phụng sự được đáp lại, thì khả năng của một doanh nhân châu Âu hoặc Mỹ có thể dễ dàng dẫn đến sự điểm đạo như những khả năng trừu tượng hơn được chứng minh bởi môn sinh phương đông.
162. If motive is purified and service is rendered, the abilities of the European or American business-person can as easily lead to initiation as the more abstract abilities demonstrated by the eastern student.
Nếu chính họ tận dụng được thời cơ hiện nay, và tuân thủ các qui luật để tiến bước trên Đường Đạo, nhiều người Tây phương sẽ có cơ hội đạt được các bước tiến xa hơn này. Người nào cũng có thể tìm thấy cơ hội đó nếu họ có đủ điều kiện sẵn sàng, ở ngay nơi họ đang sống, trong các hoàn cảnh quen thuộc của đời thường.
By availing themselves of the present day of opportunity, and by conformity to the rules for treading the Path, will come to many in the West the chance to take these further steps. That opportunity will be found by the man who is ready in the place where he is, and among the familiar circumstances of his daily life.
163. Chân sư DK đang nói với môn sinh phương Tây rằng y không cần phải từ bỏ con đường phương Tây của mình nếu y muốn tìm kiếm thành tựu. Điều này sẽ phản tác dụng. Có nhiều cách để giành được quyền đứng trước Đấng Điểm đạo.
163. DK is telling the western student that he need not abandon his western ways if he is to find achievement. This would be counter-productive. There are many ways to earn the right to stand before the Initiator.
164. Một số môn sinh ở phương Tây cảm thấy họ phải chạy trốn khỏi “thế giới điên cuồng” và sống ẩn dật để đạt được tinh thần. Chân sư DK đang cố gắng nói với những môn sinh như vậy hãy ở lại vị trí của họ và đạt được ở nơi mà nghiệp và cơ hội giáo pháp đã đặt họ vào.
164. Some student in the West feel they must run away from the “madding world” and enter into seclusion in order to achieve spiritually. DK is trying to tell such students to stay where they are and achieve in the place where karma and dharmic opportunity has placed them.
Họ sẽ tìm thấy cơ hội đó trong việc chú tâm vào bổn phận, trong việc vượt qua các trắc nghiệm và thử thách, trong việc tuân thủ bên trong với tiếng nói của Thượng Đế nội tâm, vốn là dấu hiệu của mọi ứng viên điểm đạo.
It will be found in attention to duty, in the surmounting of tests and trials, and in that inner adherence to the voice of the God within, which is the mark of every applicant for initiation.
165. Sự chú ý này, vượt qua những thử thách và trắc nghiệm, sự tuân thủ nội tâm này đối với linh hồn có thể đạt được bất kể hoàn cảnh có thể là gì.
165. This attention, this surmounting of tests and trials, this inner adherence to the soul can be achieved no matter what may be the circumstances.
Điểm đạo bao gồm chính điều được thực hiện hết ngày này sang ngày khác bởi bất cứ ai đang hữu thức cố gắng tự rèn luyện: — y sẽ được vị Chủ Nhân (hoặc là Thượng Đế nội tâm, hay là Chân sư của hành giả, nếu y hữu thức biết được Ngài) chỉ rõ điểm kế tiếp cần được đạt đến, phần việc kế tiếp cần được hoàn thành, và lý do được đưa ra.
Initiation involves the very thing that is done from day to day by any who are consciously endeavoring to train themselves: —the next point to be reached, and the next bit of work to be accomplished is pointed out by the Master (either the God within or a man's Master if he is consciously aware of Him) and the reason is given.
166. Sự trình bày của DK về điểm đạo là rất thực tế. Nó liên quan đến nhiều công việc trên cõi vật chất và không có lối thoát vào sự trống rỗng về tinh thần.
166. DK’s presentation of initiation is intensely practical. It involves much physical plane work and no escape into spiritual vacuity.
Rồi vị Huấn sư đứng một bên và theo dõi mức thành đạt của người chí nguyện. Trong lúc trông nom, Ngài nhận ra các thời điểm khủng hoảng, khi việc áp dụng một bài trắc nghiệm sẽ thực hiện một trong hai [184] việc, là khu biệt (focalise) và xua tan bất cứ điều tà vạy nào còn chưa được chế ngự—nếu thuật ngữ đó có thể được dùng ở đây— và biểu thị cho người đệ tử cả nhược điểm và ưu điểm của y.
Then the Teacher stands aside and watches the aspirant achieve. As He watches, He recognises points of crisis, where the application of a test will do one of two [Page 184] things, focalise and disperse any remaining unconquered evil—if that term might here be used—and demonstrate to the disciple both his weakness and his strength.
167. Chân sư DK thảo luận về những gì vị Huấn sư 'nhìn thấy' khi Ngài quan sát nỗ lực đạt được của người chí nguyện. Các điểm khủng hoảng xuất hiện và những điểm này có ảnh hưởng sau:
167. DK discusses what the Teacher ‘sees’ as He watches the aspirant attempt to achieve. Points of crisis come and these points have the following effect:
a. Chúng khu biệt và phân tán bất kỳ cái ác nào còn sót lại. Đúng vậy, có “cái ác” trong khát vọng điểm đạo và nó phải được nhìn thấy, khu biệt và phân tán.
a. They focalize and disperse any remaining unconquered evil. Yes, there is “evil” in the aspirant to initiation and it must be seen, focused and dispersed.
b. Những điểm khủng hoảng này chứng tỏ cho người đệ tử thấy cả điểm yếu và điểm mạnh của y. Y phải học cách tự biết mình— tốt hơn hay xấu hơn. Chỉ có như vậy y mới có thể nắm bắt bản thân một cách thông minh và đạt được tiến bộ thực sự.
b. These points of crisis demonstrate to the disciple both his weaknesses and strengths. He must learn to know himself—for better or for worse. Only thus can he take himself intelligently in hand and make real progress.
Cùng tiến trình này cũng có thể được thấy trong các cuộc điểm đạo lớn, và khả năng của người đệ tử có thể vượt qua được các trắc nghiệm và các giai đoạn lớn này tùy theo khả năng y đáp ứng và vượt qua các trắc nghiệm nhỏ hơn trong đời thường.
In the great initiations, the same procedure can be seen, and the ability of the disciple to pass these greater tests and stages is dependent upon his ability to meet and surmount the daily lesser ones.
168. Một bức tranh về sự tiến bộ dần dần được trình bày. Những thành tựu lớn hơn phụ thuộc vào những thành tựu nhỏ hơn. Mỗi thành tựu dẫn đến cơ hội lớn hơn.
168. A picture of gradual progress is presented. Greater achievements are dependent upon lesser achievements. Each achievement leads to greater opportunity.
“Người nào trung thành trong việc nhỏ nhất thì cũng trung thành trong việc lớn lao,” là một phát biểu huyền bí về thực tế, và nên đặc trưng cho toàn bộ hoạt động thường ngày của người chí nguyện chân chính;
“He that is faithful in that which is least is faithful also in much,” is an occult statement of fact, and should characterise the whole daily activity of the true aspirant;
169. Điều này hoàn toàn đúng và để nhận ra sự thật này sẽ khôi phục lại ý thức chung cho nhiều người chí nguyện, những người thực sự cần nó.
169. This is profoundly true and to realize this truth would restore common sense to many aspirants who sorely need it.
170. Không có gì là quá nhỏ để đảm bảo sự chú ý cẩn thận của người chí nguyện hướng đến điểm đạo. Như Chân sư M. gợi ý: “hạt cát nhỏ nhất có thể cản được bánh xe lớn nhất”.
170. Nothing is too small to warrant the careful attention of the aspirant to initiation. As Master M. suggests: “the smallest grain of sand can stop the largest wheel”.
cái “lớn lao” được chế ngự và được vượt qua, bởi vì nó được xem chỉ như một sự tăng cường của cái bình thường,
the “much” is surmounted and passed, because it is regarded simply as an intensification of the normal,
171. Chân sư DK đang chỉ vào “tính bình thường được thánh hóa” của điểm đạo đồ.
171. DK is pointing to the “sanctified normality” of the initiate.
172. Điểm đạo đồ cầu tiến đã xây dựng một nền tảng của những thói quen tinh thần tốt và nhịp sống hiệu quả sẽ giúp y vượt qua những khó khăn ngày càng lớn hơn mà y sẽ gặp phải.
172. The progressing initiate has build a foundation of good spiritual habits and productive rhythms which will see him through the ever greater difficulties he will encounter.
và không điểm đạo đồ nào đã từng vượt qua được cuộc trắc nghiệm lớn của điểm đạo mà chưa từng quen vượt qua được các trắc nghiệm nhỏ mỗi ngày trong cuộc sống của y; bấy giờ y sẽ xem các thử thách đến là bình thường, và khi gặp phải, y xem chúng là một phần của cấu trúc bình thường trong đời sống của y.
and no initiate has ever passed the great test of initiation who has not accustomed himself to pass lesser tests every day of his life; tests then come to be regarded as normal, and are considered, when encountered, as part of the usual fabric of his life.
173. Đây thật là những lời nghiêm túc. Trông chúng có vẻ đơn giản, nhưng chúng ta nên suy ngẫm về chúng và xem ở đâu chúng ta có thể đang bỏ qua cơ hội chuẩn bị để tìm thấy trong hoàn cảnh cuộc sống trước mắt của chúng ta.
173. These are such sobering words. As simple as they are, we should ponder on them and see where we may be overlooking preparatory opportunity to be found within our immediate life circumstances.
174. Điều bình thường, được thực hiện tốt, dẫn đến việc thực hiện thành công điều mà bây giờ vốn có vẻ phi thường.
174. The usual, well performed, leads to successful performance of that which now seems unusual.
Khi y đã đạt và giữ được thái độ trí tuệ này, thì sẽ không có điều ngạc nhiên nào hay sự thất bại nào có thể xảy ra.
When this attitude of mind is attained and held, there exists no surprise or possible defeat.
175. Về cơ bản, chân sư DK đang nói với chúng ta rằng dọc theo Con đường Điểm đạo, chúng ta sẽ gặp phải “nhiều thứ giống nhau hơn” nhưng cường độ của nó sẽ tăng lên.
175. Essentially, DK is telling us that along the Path of Initiation we shall encounter “more of the same” but its intensity will increase.
176. Chúng ta phải phát triển ý thức rằng chúng ta đang “trên con đường của chúng ta”. Chúng ta phải nhận ra rằng ở đây và bây giờ và trong hoàn cảnh của cuộc sống hàng ngày, bình thường của chúng ta, chúng ta đang chuẩn bị đối mặt với Đấng Điểm đạo, người sẽ xác nhận trạng thái điểm đạo của tâm thức mà chúng ta đã xây dựng thông qua việc thực hiện thành công trong mọi hoàn cảnh (bên ngoài và bên trong) mà chúng ta phải đối mặt.
176. We are to develop the sense that we are “on our way”. We are to realize that here and now and in the circumstances of our normal, daily life, we are preparing to face the Initiator who will but confirm the initiate state of consciousness which we have built through successful performance in all the circumstances (outer and inner) with which we have been confronted.
